Dịch

12 tháng 6, 2018

                                      Đôi  Mắt                                                                                                                          Sau cách mạng, với suy nghĩ “sống đã rồi hãy viết”, Nam Cao hăng hái tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc. Giai đoạn này, truyện ngắn “Đôi mắt” được xem là tác phẩm xuất sắc nhất của ông. Trong truyện, thông qua việc xây dựng hình tượng hai nhà văn: Hoàng và Độ với hai lối sống, hai sự nhìn nhận về người nông dân, về kháng chiến trái ngược nhau, Nam Cao đã khái quát lên một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc, không chỉ có ý nghĩa với tình hình thực tế lúc đó mà còn có ý nghĩa trong thời điểm hiện tại – vấn đề “cách nhìn cuộc sống”.
Nhân vật trung tâm được nhà văn Nam Cao tập trung khắc họa trong “Đôi mắt” là nhân vật văn sĩ Hoàng. Hoàng là một nhà văn nhưng cũng là một tay “chợ đen rất tài tình”. Trong nạn đói kinh hoàng năm 1945, mặc dù “xác người chết ngập phố phường” nhưng gia đình Hoàng vẫn phong lưu, con chó anh nuôi chưa phải nhịn một bữa.
Ở nơi ở mới, sống bên cạnh những người nông dân, trong đôi mắt Hoàng, người dân quê “toàn là những người đần độn, lỗ mãng, ích kỷ, tham lam, bần tiện cả”. Trong suy nghĩ của Hoàng, người nông dân là những kẻ suốt ngày chỉ còm cọm làm như trâu, ăn chẳng dám ăn, mặc chẳng dám mặc, ở thì chui rúc; là những người “vừa ngố vừa nhặng xị”, đánh vần xong một cái giấy mất mười lăm phút, viết chữ quốc ngữ sai vần nhưng lại thích nói chuyện chính trị. Chuyện một anh bán cháo lòng sau cách mạng làm chủ tịch xã, chuyện anh thanh niên vác tre đi đắp lũy, cản bước quân thù đọc thuộc lòng bài ba giai đoạn của cuộc kháng chiến là những chuyện đáng cười.
Từ cái nhìn về người nông dân, về cuộc kháng chiến như thế, Hoàng đã tự chọn lối sống “khép kín”, lạc lõng trước thời cuộc của đất nước. Ngày ngày, Hoàng sống trong căn nhà có màn tuyn trắng toát, chăn bông thoang thoảng mùi nước hoa, nghĩ các món ăn, đọc tiểu thuyết trước khi đi ngủ và giao du với những trí thức “rởm".
Ngày nay trong xã hội mới cũng sản sinh ra nhiều nhân vật Hoàng. Họ cũng khoác trên mình một lớp áo đỏ nhưng họ cũng là "tay chợ đen rất tài tình". Họ bỏ tiền cho con em họ du học đến đến những nước tư bản giãy chết và kiếm cách định cư trên các nước này. Họ sẵn sàng chi tiền vào các lò ấp trứng hoặc thuê người học và viết luận văn để có tấm giấy rồi chen chân trong các cơ quan nhà nước, giảng dạy tại các trường đại học...  Và họ sẵn sàng gọi những người không theo quan điểm của họ là "lũ đầu đất" hoặc là "cái đám quần chúng". Họ luôn cho rằng "con của lãnh đạo làm lãnh đạo là hồng phúc cho dân tộc" mà họ quên đi cha ông của họ bao năm đã tranh đấu để xóa bỏ "con vua lại làm vua"...
Bên cạnh đó, nhà văn Độ lại có một cái nhìn, một lối sống hoàn toàn khác. Với Độ, người nông dân có nhiều cái kỳ lạ lắm, họ vẫn là một “bí mật”, chưa thể khám phá hết. Độ nhìn thấy những hạn chế của người nông dân: “Tôi gần gũi họ rất nhiều. Tôi đã gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương”. Độ đã từng nghi ngờ về “sức mạnh quần chúng”. Nhưng, khi Cách mạng tháng Tám thành công, Độ đã nhận ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng và làm cách mạng rất hăng hái. “Vô số anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là "nựu đạn", hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm”. Độ thấy hành động anh thanh niên đọc thuộc lòng bài "ba giai đoạn" giống như một con vẹt nhưng anh cũng trông thấy bó tre anh thanh niên vui vẻ vác đi để ngăn quân thù.


Trong khi Hoàng nhìn nhận người nông dân là những kẻ tò mò, hay để ý chuyện của người khác thì Độ nhận thấy trong hành động ấy là tinh thần trách nhiệm cao của những người nông dân vì cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Với đôi mắt ấy, cái nhìn tin tưởng, trìu mến với người dân nông thôn, Độ đã đi theo kháng chiến, hòa nhập vào cuộc sống của người nông dân, sống, chiến đấu vì dân tộc.

2 tháng 6, 2018

THÁNG SÁU TRỜI MƯA
-Linh Phương-
Khúc roman lỡ nhịp úp mặt dưới cơn mưa tháng sáu
Ướt ngực em- rối bời ngọn tóc chấm vai
Đi qua... đi qua...thời gian hết mùa con gái
Cải lên ngồng lấm tấm vàng - trăng đã khuyết - nguyệt đã tàn

Anh chạy tất tả về ngõ sương tan
Vấp bậc thềm quán cà phê - em ngồi lẻ loi chờ người đàn ông cũ
Giấc mơ hạnh phúc mọc mầm xanh vừa nhú
Héo khô trong trái tim anh - gã lãng tử bị trời phạt - trời hành

Bầy sẻ nâu ngậm sợi tơ tình
Bay khắp cõi nhân gian kiếm người đàn bà đòi lại lời hẹn hò ngày trước
Cố chấp giận hờn để tắt đi niềm đam mê hạnh phúc
Thuở ban đầu gặp gỡ chớp mắt yêu nhau

Cuối mùa nhan sắc em tìm đâu
Thằng cha mang trái tim khổ nạn ?
Kỷ niệm hóa thành tờ giấy trắng
Bay theo mây ngàn mất hút nẻo trời xa

Khúc roman lỡ nhịp tháng sáu mưa nhạt - mưa nhòa
Anh muốn đưa em về sợ gió làm em ướt ngực
Đời bể dâu chia tay sao lại khóc
Chiêm bao thôi mà phải không em - phải không em ?

Tháng sáu trời mưa - tháng sáu sẽ quên
Cô đơn anh đứng thì thầm bên góc phố
“Nếu có kiếp sau xin em đừng nói lời tha thứ “
Hết duyên rồi nên hai đứa xa thôi

20 tháng 4, 2018

CẦN MỘT LỐI ĐI

Mỗi bước chân nó đi qua, là một ký ức, một khoảng thời gian in dấu trong đời. Vì thế, hôm nay, nó quyết định bước đi tiếp trên con đường của mình, sau một thời gian dài dừng chân nghỉ mệt để rồi ngủ quên và chìm đắm trong một giấc mơ.

Trước khi cất bước, nó muốn một lần nữa được hồi tưởng về đoạn đường mà nó đang đứng, nơi đã ngập tràn những kỷ niệm. Có lần nó đã nói với một người về thói quen đã hình thành từ lúc còn nhỏ của nó. Đó là mỗi khi đi qua một nơi nào để lại trong nó nhiều ấn tượng, nó luôn ngoái lại nhìn thật lâu, nhìn mãi cho đến khi nơi ấy đã xa khuất không còn thấy nữa.
Giờ thì nó vẫn chưa từ bỏ được thói quen ấy, có lẽ, như vậy mới chính là nó. Ngày ấy, mọi chuyện đến sao tình cờ quá, nhẹ nhàng quá. Một quảng thời gian dài trên đoạn đường nó đi đã in thêm dấu chân, mang theo một làn gió mát thổi bay những chiếc lá khô đang ngủ yên, khiến nơi ấy bỗng trở nên đẹp đẽ vô cùng.
Thoát ra khỏi nơi ấy, nó mới nhận ra phía trước con đường dành cho nó vẫn rộng mở và còn dài lắm, khung cảnh quanh nó vẫn đẹp dịu dàng. Nó chợt nhận ra gió vẫn luôn tồn tại quanh đây, gió vẫn làm mát cho cây cối, cho con đường và cả cho nó. Nhịp sống vẫn đang hối hả, những người bạn song hành cùng nó giờ đã đi trước nó thật xa, vậy mà nó lại ngồi đây chẳng biết để làm gì?
Không được đâu, phải tỉnh lại thôi, đừng đắm chìm trong cơn mơ mãi, nó đã tự thức tỉnh mình như thế. Nó chuẩn bị bước đi tiếp đoạn đường mới, nó sẽ nói lời chào tạm biệt với đoạn đường đã qua tràn ngập kỷ niệm đẹp, nhưng cũng rất buồn và tạm biệt dấu chân kỷ niệm. Khi nó quay lưng lại, nó biết mình sẽ xa hơn nhưng nó sẽ lưu kỷ niệm đẹp ngày ấy vào một nơi thật kín trong tim mình. Nó sẽ chôn thật sâu, thật sâu vào tận đáy lòng, để trái tim mình được ngủ yên. Nếu tim có thể nói, chắc tim sẽ trách nó nhiều lắm. Cất bước đi, là nó không còn nhìn thấy nữa. Nó nhớ, mình còn một lời hứa. Dù nó biết điều đó rất hoang đường, dù biết mình rất ngốc nhưng nó vẫn muốn tin rằng: Quay lưng đi, con đường của nó vẫn thênh thang chờ nó tiếp tục hành trình của mình. Con đường của nó hướng nó đến một cuộc sống không còn cô đơn nữa.
Nó bước đi, gió mát thổi nhè nhẹ. Ngước nhìn lên cao, ánh mặt trời vẫn chiếu sáng rạng ngời, tâm hồn nó lâng lâng một niềm tin vào tương lai, xen lẫn một chút gì đó có thể gọi là xót xa? Nhưng kể từ nay, nó biết mình cần đi về phía trước.
Một lần cho mãi mãi!...

17 tháng 7, 2017

Luật khoa Đại học đường Sàigòn – một thời vang bóng
Trường Luật khoa Đại học đường Sàigòn (Đại học Luật khoa Sàigòn) được chính thức thành lập vào năm 1955, sau khi Hiệp định Geneve được ký kết. Lịch sử hình thành và tồn tại của trường có thể được chia làm hai giai đoạn: (i) 1933-trước 1954; và (ii) 1955-1975.
Trong giai đoạn đầu, trường được thành lập với tên gọi Trường Cao đẳng Luật học, tiền thân là Trường Cao đẳng Pháp chính Đông Dương do chính quyền bảo hộ Pháp thành lập nhằm đào tạo tầng lớp quan lại bản xứ cho bộ máy cai trị ba nước Đông Dương. Những cái tên tốt nghiệp trong giai đoạn này có thể kể tới như GS. Vũ Văn Mẫu; GS. Vũ Quốc Thúc, GS. Nguyễn Cao Hách, Trần Trọng Kim, Phan Anh, Dương Đức Hiển, Trương Tử Anh, Võ Nguyên Giáp,… Đến năm 1938, Trường Cao đẳng Luật học được nâng lên thành Phân khoa Luật tại Hà Nội, trực thuộc Trường Đại học Luật Paris. Đến năm 1947, trường mở thêm một chi nhánh tại Sài Gòn sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.
Sau Hiệp định Geneve, cơ sở Hà Nội chuyển hẳn vào Sài Gòn, sáp nhập vào Viện Đại học Sài Gòn. Trong khi ở ngoài Bắc, Trường Đại học Luật bị xóa bỏ, thay thế bởi Trường Đại học Chính trị Xã hội, đến năm 1948 thì gọi là Trường Pháp chính rồi sau bỏ hẳn. Trong Sài Gòn, trường Luật khoa Đại học đường Sàigòn (hay còn gọi là Đại học Luật khoa Sàigòn) chính thức được thành lập ngày 30/4/1955, trụ sở đặt tại số 17 đường Duy Tân. Chức vị Khoa trưởng thời kỳ này cũng được Pháp trao lại hoàn toàn cho các vị giáo sư của Việt Nam. Cho đến trước khi giải thể năm 1975, Luật khoa Đại học Sàigòn dưới sự lãnh đạo lần lượt của các giáo sư Vũ Văn Mẫu(1955-1957), Vũ Quốc Thúc( 1957-1963), Nguyễn Cao Hách( 1963-1967), Nguyễn Ðộ (1967-1971), Bùi Tường Chiểu (1971-1973), Vũ Quốc Thông (1973-1975).
Cơ cấu tổ chức
Trường Đại học Luật khoa Sàigòn được tổ chức và điều hành bởi Hội đồng Khoa gồm các giáo sư trong trường, trong đó Khoa trưởng và Phụ tá do Hội đồng Khoa bầu ra để điều hành công việc. Hội đồng Khoa quyết định chính sách, chương trình giảng dạy, tự tuyển Giáo Sư mà không có sự can thiệp của Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Bên cạnh Hội đồng Khoa là một Ban Hành Chánh do một Tổng Thư Ký điều hành.

Về tổ chức, Trường có ba ban bao gồm: ban Công pháp; ban Tư pháp; và ban Kinh tế (ít hơn Luật khoa Paris ban Pháp chế sử, giảng dạy luật nước Pháp trước cuộc cách mạng 1789).
Ban Công pháp: gồm các môn Luật Hiến pháp; Luật Hành chính; và Luật Công pháp Quốc tế. Trưởng Ban khi mới thành lập là GS Vũ Quốc Thông cùng các GS: Nguyễn Ðộ, Nguyễn Văn Bông, Lưu văn Bình, Lê Ðình Chân, Tăng Kim Ðông, Trần Thị Hoài Trân, Nguyễn Xuân Lai, Nguyễn Văn Canh, Lê Quý Chi và giáo sư Trần Như Tráng.
Ban Tư pháp: gồm các môn Dân luật; Hình luật; Luật thương mại; và Luật Quốc tế Tư pháp, do GS. Vũ Văn Mẫu làm trưởng Ban cùng các GS: Bùi Tường Chiểu, Lê Tài Triển, Nguyễn Tấn Thành, Nguyễn Huy Chiểu, Trần Văn Liêm, Nguyễn Quang Quýnh, Nguyễn Văn Thành, Vũ Tam Tư, Nghiêm Xuân Việt, Vũ Thị Việt Hương, Ðặng Thị Tám và Hà Như Vinh.
Ban Kinh tế: gồm các môn Phân tích Kinh tế; Lịch sử các học thuyết kinh tế; và Địa lý Kinh tế phát triển, do GS Vũ Quốc Thúc, Thạc sĩ Kinh Tế là Trưởng Ban và các GS: Nguyễn Cao Hách, Mai Văn Lễ, Phan Tấn Chức,Châu Tiến Khương, Trần Thiên Vọng, Hồ Thới Sang, Nguyễn Hải Bình, Vũ Quốc Thùy, Phạm Văn Thuyết, Nguyễn Văn Ngôn, Tôn Thất Trung Nghĩa, Bùi Tường Huân và Trịnh Ðình Khải.
Tuy nhiên, Luật khoa Sàigòn có bổ sung thêm môn Pháp chế sử Việt Nam dành cho sinh viên năm nhất và đến giữa thập niên 1960 tiếp tục bổ sung môn Cổ luật Việt Nam dành cho sinh viên hai năm đầu.

Nội dung chương trình học: Chương trình cử nhân
Trước năm 1967, học trình Ban Cử Nhân Luật là 3 năm, chưa phân ban, các sinh viên đều học như nhau, khi tốt nghiệp đều được cấp phát văn bằng Cử Nhân Luật. Nếu tiếp tục lên Cao Học, sinh viên mới chọn ban ngành: Công Pháp, Tư Pháp hay Kinh Tế.

Từ sau năm 1967, học trình Ban Cử Nhân Luật là 4 năm. Hai năm đầu chưa phân ban, sinh viên học chung cùng một chương trình, với các môn học như sau:
Cử Nhân Năm Thứ Nhất (7 môn): Dân luật(Civl Law), Luật Hiến Pháp (Constitutional Law), Kinh Tế Học (Economics), Công Pháp Quốc Tế (International Public Law), Pháp Chế Sử (History of Law), Danh từ kinh tế Anh Ngữ (Economical Terminology In English), và Danh Từ Pháp Lý (Justdical Terminology)
Cử Nhân Năm Thứ Hai (8 môn): Hình Luật (Penal Law), Dân Luật (Civil Law), Bang Giao Quốc Tế (International Relations), Kinh Tế Học (Economics), Tài Chánh Công (Finance), Luật Hành Chánh (Administrational Law), Danh Từ Kinh Tế (Economical Terminology In English ) và Luật Ðối Chiếu (Comparative Law In French).
Bắt đầu từ năm thứ ba trở đi, sinh viên sẽ ghi danh học theo ngành mình chọn, với các môn học chung và chuyên biệt, như Ban Kinh Tế sẽ học thêm các môn Thống Kê (Statistics), Kinh Toán Học (Econometrics). Sau 4 năm tốt nghiệp, sinh viên được cấp văn bằng Cử Nhân Luật ban công pháp, tư pháp hay kinh tế. Sau khi tốt nghiệp Cử Nhân, sinh viên có thể ghi danh tiếp tục học Ban Cao Học Luật hai năm theo ngành của mình, để đủ điều kiện trình luận án thi lấy bằng Tiến sĩ Luật.

Như vậy có thể thấy rằng, các môn kinh tế như Kinh tế học, Danh từ Kinh tế là những môn bắt buộc dành cho sinh viên của Đại học Luật khoa Sàigòn. Cho tới những năm đầu thập niên 1970 tới trước khi giải thể, Cử nhân Luật khoa năm thứ nhất còn phải học theo những cuốn giáo trình năm trong môn Lịch trình Học thuyết Kinh tế Xã hội (với các giáo trình như “Cách mạng Kỹ nghệ” [1969] và “Tiến bộ Khoa học-cách mạng kỹ-nghệ phát triển kinh tế” [1970]) Diễn trình Kinh tế Xã hội (như “Vấn đề nhân sinh tại Nam Á Châu” [1971], “Nhân loại đi về đâu” [1974], và “Trên đường cơ khổ” [1975]) của GS. Nguyễn Cao Hách và môn Định luật Kinh tế [1974-1975] của GS. Hồ Thới Sang (khi đó là Phó Khoa trưởng Đại học Luật khoa Sàigòn).
Chương trình Cao học
Nội dung chương trình Ban Cao Học Luật được chia làm hai cấp: Cấp I và Cấp II. Sinh viên sẽ phải học một số môn chính đã học ở ban cử nhân, nhằm ôn lại một cách chuyên sâu hơn. Chương trình học của mỗi Ban gồm 5 môn. Ví dụ Ban Cao học Công pháp, tại cấp cao học I: sinh viên phải học luật hành chánh, luật hiến pháp, quốc tế công pháp, dân luật và luật đối chiếu (Hệ thống của Pháp). Qua cao học I, bước lên cao học II, sinh viên phải học các môn: Học thuyết chính trị, hành chánh công quyền, các tồ chức quốc tế, các vấn đề chính trị quốc tế đương thời, và luật đối chiếu (Hệ thống của Anh).

Phân khoa và cấp bằng
Dưới thời Pháp thuộc, phân khoa luật Hà Nội chỉ cấp đến văn bằng cao nhất là Cao học Luật (Diplôme D’ etudes Superieures De Droit hay DES), còn bằng Tiến sĩ thì do Ðại học Paris cấp. Đây là Tiến sĩ Quốc gia và ở Pháp còn có một loại văn bằng Tiến sĩ giá trị thấp hơn gọi là Tiến sĩ Đại học hay Tiến sĩ Ðệ Tam cấp. Các văn bằng Tiến sĩ này có được thiết lập tại một số phân khoa khác của Ðại học Việt Nam trước năm 1975, như Văn Khoa, Khoa Học. . . Từ năm 1955, Ðại Học Luật khoa Sài Gòn đã chỉ cấp phát văn bằng cao nhất là Tiến sĩ Quốc gia theo tiêu chuẩn của Ðại học Paris. Tuy nhiên, phải bắt đầu từ những năm 1970, khi mà nhu cầu đào tạo trong nước tăng lên, số lượng Tiến sĩ đào tạo trong nước mới tăng lên. Trước 1970, hầu như không có ai được làm luận án Tiến sĩ trong nước. Cần chú ý rằng, tại Pháp lúc đó, bằng cấp cao nhất là thạc sĩ (ví dụ: thạc sĩ kinh tế (Agregé des sciences économiques), chỉ những ai đã có Tiến sĩ Quốc gia mới được phép thi lấy văn bằng này. Việt Nam trong giai đoạn 1950-1960 đã có khoảng 9 vị GS được cấp bằng ngành thạc sĩ luật tại pháp (bao gồm cả 3 ban: Công pháp, Tư pháp và Kinh tế), hầu hết những vị giáo sư này đều từng giảng dạy tại Luật khoa Đại học Sàigòn.

Theo Nguyễn Thanh Tùng,
Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách

Tài liệu tham khảo:
Đặng Phong (2006). Lịch sử Kinh tế Việt Nam 1945-2000 (Tập II: 1055-1975). Viện Khoa học Xã hội-Viện Kinh tế Việt Nam. NXB Khoa học Xã hội.


28 tháng 5, 2016

So sánh về Thừa phát lại giữa Pháp và Việt Nam
28-05-2016 -

Thua phat lai Cai Lay

 Chế định Thừa phát lại ở Pháp đã tồn tại từ lâu đời và là 1 trong những cái nôi của nghề Thừa phát lại trên toàn thế giới. Thừa phát lại ở Pháp hiện tại thực hiện các mảng công việc rất đa dạng và uy tín Thừa phát lại trong xã hội rất là cao.
Chế định Thừa phát lại ở Pháp đã tồn tại từ lâu đời và là 1 trong những cái nôi của nghề Thừa phát lại trên toàn thế giới. Thừa phát lại ở Pháp hiện tại thực hiện các mảng công việc rất đa dạng và uy tín Thừa phát lại trong xã hội rất là cao.

1. Thừa phát lại ở Pháp có nguồn thu chủ yếu từ hoạt động thi hành án còn ở Việt Nam, Thừa phát lại đang có nguồn thu chủ yếu từ lập vi bằng.
2. Thừa phát lại Pháp có quyền đại diện cho khách hàng trước Tòa án (Tòa thương mại) và đại diện khách hàng khiếu nại trước Tòa án tương tự vai trò luật sư (trừ những trường hợp mà chỉ Luật sư mới có quyền đại diện như ở Tòa Thượng thẩm) còn Thừa phát lại Việt Nam thì không.
3. Thu hồi nợ là một công việc được phép của Thừa phát lại tại Pháp còn Việt Nam thì không. Việc thu hồi nợ trong trường hợp này được thực hiện theo phương pháp tùy ý của Thừa phát lại nhưng phải hoàn toàn tôn trọng nguyên tắc về đạo đức.
4. Ở Pháp, thi hành án dân sự là công việc độc quyền của Thừa phát lại (Kho bạc Nhà nước cũng là 1 khách hàng lớn của Thừa phát lại) còn ở Việt Nam, công việc này Thừa phát lại chia sẻ công việc với các cơ quan thi hành án dân sự nhà nước.
5. Tống đạt văn bản là công việc độc quyền của Thừa phát lại Pháp, còn ở Việt Nam, công việc tống đạt của Thừa phát lại không mang tính độc quyền mà mang tính hỗ trợ, chia sẻ với các Cơ quan ban hành văn bản cần tống đạt. Ở Pháp, ngoài tống đạt văn bản cho Tòa án, Thừa phát lại còn tống đạt văn bản cho tư nhân khi có yêu cầu. Ở Việt Nam, Thừa phát lại chỉ tống đạt văn bản cho Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự công.
6. Ở Pháp, Thừa phát lại và các tổ chức hành nghề Thừa phát lại bị hạn chế trong hoạt động quảng cáo, quảng bá về mình. Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp của Thừa phát lại Pháp quy định: “Thừa phát lại không được đích thân thực hiện hoặc cho phép ai nhân danh mình thực hiện bất kỳ hành vi quảng cáo nào”. Việc quảng cáo trang Web của Thừa phát lại cũng không được phép: “Không chấp nhận bất cứ hình thức hiển thị kết quả tra cứu dựa trên việc mua từ khóa…”. Ở Việt Nam, việc quảng bá cho Văn phòng hiện nay không bị cấm hay hạn chế.
7. Ở Pháp, trong 1 số trường hợp, Thừa phát lại có thể cử Thư ký nghiệp vụ đủ tư cách để lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân (Điều 15 Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại của Cộng hòa Pháp). Ở Việt Nam, Thừa phát lại phải đích thân lập vi bằng, Thư ký nghiệp vụ trong mọi trường hợp chỉ đóng vai trò hỗ trợ Thừa phát lại.
8. Thừa phát lại ở Pháp có thể lập vi bằng theo Bản án của Tòa án còn Thừa phát lại ở Việt Nam thì không. Thừa phát lại phải tuân thủ nghiêm ngặt nội dung của Bản án đó, không được thêm hay bớt bất kỳ chi tiết nào. Nếu gặp khó khăn, Thừa phát lại phải báo cáo với Thẩm phán đã tuyên án (Điều 15 Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại của Cộng hòa Pháp).
9. Ở Pháp, Thừa phát lại có thể được phân công hoặc được ủy quyền tham gia vào các cuộc đấu giá tài sản còn Thừa phát lại Việt Nam thì không. Khi được phân công, Thừa phát lại phải tuân thủ những nghĩa vụ của mình với tư cách công lại, cũng như những quy tắc đạo đức nghề nghiệp của ngành nghề. Khi được ủy quyền (từ bên Bán), Thừa phát lại phải tuân thủ nghĩa vụ tư vấn.
10. Thừa phát lại ở Pháp có hoạt động hết sức đa dạng bao gồm 2 mảng công việc là độc quyền và không độc quyền. Ở mảng công việc độc quyền, Thừa phát lại ở Pháp có quyền tống đạt văn bản (bao gồm văn bản của Tòa án và văn bản của tư nhân khi có yêu cầu) và thi hành lệnh của Tòa (tương tự ở Việt Nam là tổ chức thi hành án dân sự). Ở mảng công việc không độc quyền, Thừa phát lại ở Pháp có thể thực hiện: Soạn thảo văn bản (bao gồm lập vi bằng), Thu hồi nợ bằng thỏa thuận chung, Nộp khiếu kiện và đại diện cho khách hàng tại Tòa án. Ngoài 2 mảng công việc lớn kể trên, Thừa phát lại ở Pháp còn được phép thực hiện các hoạt động phụ trợ nhằm “tìm kiếm sự cân đối tài chính trong công tác quản lý văn phòng” và tham gia vào quá trình bán đấu giá tài sản. Thừa phát lại Việt Nam thực hiện 4 công việc: Tống đạt văn bản, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức thi hành án. 

3 tháng 7, 2014

Thực trạng pháp luật lao động về kỷ luật sa thải và một số kiến nghị




Để xã hội duy trì được sự ổn định và phát triển, việc thiết lập kỷ luật, trật tự có vai trò quan trọng. Trong khi Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật để duy trì trật tự trong xã hội, thì trong doanh nghiệp, người sử dụng lao động (NSDLĐ) cũng thiết lập kỷ luật nhằm đảm bảo ý thức chấp hành của người lao động (NLĐ), từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đó là kỷ luật lao động. Tuy nhiên, cũng giống như pháp luật thường bị phá vỡ trật tự bởi hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật lao động cũng thường bị phá vỡ bởi hành vi vi phạm kỷ luật. Trước những biểu hiện tiêu cực này, đặt ra yêu cầu NSDLĐ phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm xử lý những hành vi vi phạm để bảo đảm kỷ luật lao động được NLĐ tuân thủ một cách triệt để. Không giống như các hình thức xử lý kỷ luật khác, kỷ luật sa thải là hình thức xử lý ở mức cao nhất mà pháp luật cho phép NSDLĐ được quyền áp dụng đối với NLĐ có hành vi vi phạm kỷ luật lao động. NSDLĐ áp dụng hình thức xử lý kỷ luật lao động sa thải có tác động rất lớn đối với NLĐ bởi nó lấy đi việc làm của họ, đẩy họ vào tình trạng thất nghiệp, chính vì vậy mức độ ảnh hưởng đối với xã hội cũng rất to lớn.

Kiện sa thải trái luật, tòa lúng túng

Nguồn: Báo Pháp luật Tp.HCM
Thứ Năm, ngày 3/7/2014 - 06:35...
HOÀNG YẾN


Bộ luật Lao động hiện hành không liệt kê sa thải trái pháp luật là một trong các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật khiến các tòa lúng túng, không biết dựa vào quy định nào để bảo vệ người lao động
Mới đây, chị NTK đã đến TAND một quận ở TP.HCM định nộp đơn khởi kiện vì cho rằng mình bị sa thải không đúng quy định của Bộ luật Lao động (BLLĐ). Tuy nhiên, đến đây chị bất ngờ khi nghe cán bộ tòa nói trường hợp của chị, dù tòa có xác định là bị sa thải trái luật đi chăng nữa thì tòa cũng không biết dựa vào quy định nào của BLLĐ để làm căn cứ buộc phía công ty có trách nhiệm với chị. Vì vậy, chị K. cứ chần chờ không biết có nên nộp ngay đơn khởi kiện hay chờ thêm một thời gian nữa cho đến khi tòa có hướng dẫn...Luật cũ có, luật mới bỏ