Dịch

23 tháng 6, 2014

NHẬN ĐỊNH VÀ HỎI ĐÁP LUẬT LAO ĐỘNG
Diễn đàn pháp luật lao động
Tư vấn pháp luật lao động
Những điểm mới trong BLLĐ 2013

Thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng

Ts. Dương Anh Sơn


Việc thừa nhận giá trị pháp lý của các thỏa thuận nhằm hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thể hiện sự tôn trọng tự do ý chí của các bên tham gia ký kết hợp đồng, nhưng cũng cần nghiêm khắc đối với các hành vi cố ý vi phạm. Tác giả đưa ra kinh nghiệm một số nước và đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện chế định về hợp đồng trong pháp luật dân sự và thương mại ở nước ta.
Theo nguyên tắc chung, khi một bên không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm trước phía bên kia. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm (trường hợp bất khả kháng; do lỗi của người có quyền; do có sự thoả thuận của các bên về trường hợp miễn trách nhiệm).
Xây dựng hệ thống các quy định pháp luật phù hợp để giám sát có hiệu quả các thoả thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm là một trong những vấn đề cơ bản để hoàn thiện pháp luật hợp đồng, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang sửa đổi Bộ luật dân sự 1995 và Luật thương mại 1997.
Những nguyên tắc vàng của Napoleon Hill

 

22 tháng 6, 2014

Pháp Trị

                               Lời Giới Thiệu


Thuật ngữ pháp trị ngày càng được sử dụng rộng rãi trên các diễn đàn và tổ chức quốc tế, từ Liên hiệp quốc đến các tổ chức tài chánh như IMF, WB, ADB, đến các tổ chức phi-chính phủ như Asia Foundation, Ford Foundation, Carnegy Endowment for International Peace, như là một điều kiện cần thiết cho các nước đang phát triển và đi theo kinh tế thị trường. Việt Nam đến năm 2001 cũng bắt đầu xây dựng nhà nước “pháp quyền.”[1] Tuy nhiên, pháp trị và biến thể của nó–pháp quyền, không chỉ thuần tuý là một khái niệm hay lý thuyết trừu tượng của các nhà luật học hay các nhà lý luận chính trị, mà còn là cách sống và nếp suy nghĩ của công dân các nước Tây phương trong gần 2000 năm qua.[2] Do đó,Học Viện Công Dân tuyển dịch các tài liệu, tiểu luận liên quan đến pháp trị nhằm tạo cơ hội cho độc giả Việt Nam tiếp cận các tư tưởng về pháp trị của Tây phương, đồng thời cũng góp phần xây dựng cơ sở tài liệu cho lý luận và thực hành pháp trị trong tương lai tại Việt Nam.

21 tháng 6, 2014

CÓ NÊN CHUYỂN SANG NGHỀ CẮT TÓC KHÔNG?




Chiều nay, đi ra bác thợ cắt tóc vỉa hè ở Hồ Đắc Di gần Văn phòng để cắt tóc. Vừa thấy tôi, bác hét ầm lên: “Sao trông chú mệt mỏi thế? Chết! tóc bạc quá nhiều rồi mày ơi!”.
Không để cho tôi nói câu nào, bác thợ vừa cắt vừa thao thao: “Thôi, làm vừa thôi, nghỉ ngơi đi. Tao thấy mày xa xả suốt ngày, tư vấn cho dân không thu lệ phí , cứ đà này mày sống được bao nhiêu năm nữa? Như tao đây này, về hưu gần chục năm nay, treo cái hộp lên để kiếm thêm đồng rau cỏ, chạy mưa chạy nắng, chạy công an trật tự, trung bình cũng kiếm thêm được mỗi tháng 3-4 triệu, nhưng khỏe cái đầu mày ạ. Tuổi già khoanh gối trong nhà với bà lão nhà tao nhiều khi lại sinh cãi nhau. Làm thêm tí xíu, thu nhập không thành vấn đề, nhưng có niềm vui của lao động. Làm nghề luật sư như mày ở đất nước mình luật pháp chưa rõ ràng; một vụ án thì công an, tòa án, viện kiểm sát người ta họp quyết với nhau rồi; thậm chí đã xin ý kiến cấp ủy thì ra tòa mày có cãi bằng trời. Có khi họ diễn cho đúng thủ tục, tốn tiền tốn của của Nhà nước và nhân dân thôi. Thậm chí án đã bỏ túi nhưng ông to to nào đó chỉ cần gọi một cú điện thoại là thay đổi ngay; trừ khi đưa lên công luận họ không bao che được thì đành phải chịu. Mày có thông minh, có giỏi nữa thì cũng tranh luận cho vui thôi”….

20 tháng 6, 2014

XEM CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ TRÊN VTV VỪA VUI, VỪA BUỒN



Trần Đình Triển

Thực lòng đã mấy năm nay không có thời gian đọc báo giấy, xem truyền hình mà chỉ tranh thủ xem tin tức trên mạng. Hôm nay, ti vi phát chương trình thời sự đúng vào bữa cơm tối nên mới xem được trọn vẹn chương trình.

Xem xong, tôi thấy có những niềm vui, đó là việc các chiến sĩ quân đội, cảnh sát biển, hải giám, ngư dân,… đang từng giờ, từng phút kiên cường bám biển, bảo vệ lãnh thổ của Tổ quốc; nhân dân cả nước ngày đêm theo dõi tin tức và kiên quyết lên án hành động Trung Quốc xâm lấn vùng biển của Tổ quốc. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Vương quốc Hà Lan Mark Rutte đã ký tuyên bố chung Việt Nam – Hà Lan – đây là 1 bước mới trong quan hệ hợp tác toàn diện giữa 2 nhà nước.
CUỐN SÁCH "CHIẾC XE LEXUS VÀ CÂY OLIU"

CUỐN SỰ THẬT QUAN HỆ VIỆT TRUNG TRONG 30 NĂM QUA

CUỐN SỰ THẬT QUAN HỆ VIỆT TRUNG TRONG 30 NĂM QUA

Sự thật quan hệ Việt - Trung trong 30 năm qua

19 tháng 6, 2014

Pháp quyền và Hiến pháp

David Williams


Trong một xã hội pháp quyền, nguyên tắc pháp quyền cơ bản là quyền lực của chính quyền phải chịu ràng buộc trong khuôn khổ các nguyên tắc pháp lý bền vững, được bảo vệ bởi một bản hiến pháp khó thay đổi. Để pháp quyền trở thành hiện thực, hệ thống tòa án cần được đào tạo về chuyên môn, trung thành với pháp luật, và đặc biệt phải được đảm bảo tính độc lập cao.
Quyền lực chính quyền phải chịu ràng buộc bởi các nguyên tắc pháp lý bền vững
Ở một số quốc gia, chính quyền hoàn toàn tự do làm bất cứ điều gì mà họ muốn mà không phải chịu bất cứ ràng buộc nào từ bên ngoài. Ở những nơi này, chính quyền nắm quyền lực tối cao. Họ dùng luật để cai trị người dân, nhưng chính họ lại không phải là đối tượng chịu điều chỉnh bởi bất cứ một hệ thống những nguyên tắc pháp lý tối thượng nào đứng trên những mong muốn của họ. Những quốc gia như thế được gọi là những quốc gia pháp trị (rule by law): luật pháp chỉ là công cụ của những người có quyền lực dùng để thống trị người khác. Kinh nghiệm thế giới cho thấy những chính quyền như thế là rất nguy hiểm cho người dân. Những chính quyền này có thể vi phạm quyền của công dân, như tước đoạt đất đai tùy tiện hay nhũng nhiễu hối lộ. Dù có thể họ được bầu lên một cách dân chủ nhưng sau đó họ có thể toan tính cầm quyền mãi mãi và giao những vai trò quan trọng trong chính quyền cho thân bằng quyến thuộc của họ. Sau một cuộc bầu cử, phe thắng cử có thể dùng quyền lực mới giành được để đàn áp đối lập, như bằng cách đặt các đảng chính trị khác ra ngoài vòng pháp luật và bỏ tù lãnh đạo của các đảng đó, hoặc chỉ dành những quyền lợi tài chính cho những người đã ủng hộ họ mà không dành cho ai khác.

Facebook đang “giết chết” thời gian của giới trẻ?



Trường học, gia đình, công ty, công sở có thể khóa trang Facebook vào những giờ nhất định nhằm hạn chế lạm dụng Facebook …
Ngày nay Internet trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống cũng như đối với công việc của hầu hết mọi người. Cùng với sự phát triển của Internet, các trang mạng xã hội (social networks) ra đời như Yahoo, Twitter, Facebook… đem lại nhiều lợi ích, nhưng cũng gây ra nhiều tác hại cho cuộc sống của người sử dụng.
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, Facebook được xem là một trong những trang mạng được nhiều người sử dụng nhất, đặc biệt là giới trẻ. Facebook đã đem lại một giá trị to lớn, chẳng hạn như, nó là một công cụ kết nối mọi người rất tiện lợi và miễn phí hay để chúng ta tìm kiếm những người bạn cũ, cũng như chia sẻ các thông tin về cuộc sống, công việc.
Ngoài ra, người sử dụng Facebook có thể tạo ra các nhóm, trang riêng để chia sẻ, trao đổi những vấn đề về học tập, công việc, cuộc sống với những người trong nhóm…sinh viên có thể sử dụng Facebook cho việc học nhóm, thông tin bài tập về nhà, hạn nộp bài kiểm tra…

Kinh Doanh Vàng ở Việt Nam đôi điều suy nghĩ



Trong lý thuyết tài chính, ai cũng biết vai trò chức năng của Ngân Hàng trung ương là độc quyền phát hành tiền để chính phủ có thể điều chỉnh được lượng tiền lưu thông để có thể kiểm soát lạm phát; là trung tâm thanh toán, chuyển nhượng, bù trừ của các ngân hàng trung gian giúp ngân hàng trung ương kiểm soát, theo dõi, quản lý hoạt động của toàn bộ hệ thống tài chính trong nước; quản lý dự trữ bắt buộc của hệ thống ngân hàng trung gian;là cứu cánh cho vay cuối cùng của hệ thống ngân hàng trung gian; là chủ ngân hàng của chính phủ với nghiệp vụ là cho vay, ngân hàng trung ương làm thay đổi lượng tiền tệ trong nền kinh tế, nghĩa là can thiệp vào những biến động của kinh tế vĩ mô; thay mặt chính phủ tổ chức thu thuế qua hệ thống ngân hàng của nó, trong các thỏa thuận tài chính, viện trợ, vay mượn, chuyển nhượng và thanh toán với nước ngoài, phát hành trái phiếu, cổ phiếu…cho chính phủ; là cố vấn tài chính cho chính phủ trong chính sách tài chính và kinh tế. Ngân hàng trung ương là ngân hàng trực tiếp quản lý dự trữ quốc gia và điều tiết kinh tế vĩ mô.Còn vai trò của vàng, ai cũng biết tầm quan trọng của kim loại hiếm này. Nguyên tố vàng chỉ hình thành qua các vụ nổ của siêu sao trong vụ trụ, tác dụng của nó được sử dụng nhiều trong công nghiệp điện tử và vai trò chính của nó là phòng ngừa rủi ro trong cuộc sống nên nó là phương tiện, là cứu cánh cho đời sống của cá nhân khi khó khăn. Khi đồng tiền bất ổn, chứng khoán rủi ro, kinh doanh nguy hiểm thì người ta tìm đến vàng để phòng thủ.

Trích đoạn trong cuốn sách “kỹ năng tiếp cận việc làm nghề luật” của Ths. Lê Học Lâm


BÀI 1. CÁC KỸ NĂNG NGHỀ LUẬT VÀ CÁC VIỆC
LÀM LIÊN QUAN ĐẾN NGHỀ LUẬT
         1. CÁC KỸ NĂNG ĐÃ HỌC Ở TRƯỜNG LUẬT
1.1. Khả năng tổng hợp, khái quát, tóm tắt vấn đề:
Trong các trường luật, qua các môn học nghiên cứu hồ sơ, giải quyết các tình huống và tập diễn án, các sinh viên luật có khả năng tóm tắt khái quát vấn đề mà thân chủ trình bày. Khi tiếp xúc với khách hàng, họ thuật lại nội dung vụ án, những oan khuất cũa họ nhưng cách trình bày của khách hàng không theo nội dung rõ ràng mà mâu thuẫn, lộn xộn và hầu như theo ý chí chủ quan của họ rằng họ đúng và che mất các yếu tố bất lợi. Do vậy, các trường luật thường rèn luyện cho sinh viên khả năng nắm bắt vấn đề một cách tóm tắt để xác định quan hệ pháp luật gì? Bạn cần phân tích các hành vi xảy ra trong vụ kiện, sau đó sâu chuỗi tất cả những hành vi này này thành một hệ thống, thấy đâu là nguyên nhân, là điều cốt lõi của vụ kiện hay là một cánh cửa mở để đi theo nó mà thu thập thông tin tiếp. Tất cả những sự tư duy này luôn phải đảm bảo nguyên tắc logic chứ không thể đem cách suy nghĩ cảm tính vào được. Sự tư duy này gọi là tư duy pháp lý.

Luận bàn về Hiến pháp sửa đổi năm 2013


Hôm nay thảo luận về Hiến pháp. Nhớ bài góp ý này năm 2013 cảm thấy buồn vì chẳng ai nghe. Bây giờ đã thông qua mới thảo luận tán đồng. Toàn đại biểu hành lang.
Văn bản luật có tên là Hiến pháp ra đời từ rất sớm, những khai quật ở Iraq đương đại tiến hành vào năm 1877 đã tìm thấy bằng chứng của bộ luật pháp lý sớm nhất được biết đến do vua Urukagina ở thành phố Lagash, nước Sumer ban hành khoảng năm 2300 TCN. Nhưng các văn bản Hiến pháp cổ này chỉ là văn bản luật của nhà nước sử dụng với tư cách là công cụ cai trị dân, trong đó, cho người dân một số quyền hạn như việc giảm thuế đối với các quả phụ, trẻ mồ côi và bảo vệ người nghèo khỏi bị người giàu cho vay nặng lãi, giống như người chủ trại chăn nuôi cho phép các con vật nuôi một số quyền hạn nhất định. Trong xã hội dân chủ, khi thừa nhận người dân làm chủ xã hội, nhà nước là tổ chức do người dân lập ra có nhiệm vụ phục vụ nhân dân, thì khái niệm Hiến pháp được Montesquieu và Rousseu đưa ra là một bản hợp đồng xã hội, trong đó, nhân dân ký hợp đồng với nhà nước thuê nhà nước phục vụ mình. Do đó, ông Abraham Lincoln đã có câu nói lịch sử “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” và câu nói này trở thành tuyên ngôn của chính phủ rất nhiều các quốc gia, được ghi nhận trong hấu hết các bản Hiến pháp của các quốc gia trên hành tinh chúng ta.






ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ

         THẾ GIỚI PHẲNG

18 tháng 6, 2014

KHÁI NIỆM LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ

PHẠM KIM ANH
ThS. Trưởng khoa luật Dân sự trường ĐH luật TP.HCM
 ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ KHPL SỐ 3 /2003

Trong khoa học pháp lý tồn tại quan điểm cho rằng cơ sở phát sinh trách nhiệm pháp luật dân sự là các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật dân sự. Một trong những yếu tố cấu thành đó là lỗi của người vi phạm. Theo nguyên tắc chung thì lỗi là điều kiện cần thiết để áp dụng trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ dân sự. Chính vì vậy mà quy phạm về trách nhiệm do có lỗi được đưa vào Bộ Luật dân sự. Khoản 1 Điều 309 Bộ Luật dân sự (BLDS) quy định rằng, người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Mặc dù pháp luật dân sự coi lỗi là điều kiện tiên quyết để áp dụng trách nhiệm dân sự nhưng lại không đưa ra định nghĩa rõ ràng về lỗi. Điều này đã gây ra một số bất cập trong việc xác định trách nhiệm khi có hành vi vi phạm pháp luật dân sự, đặc biệt là trong trách nhiệm dân sự liên đới.Trong một số giáo trình luật dân sự cũng như trong một số ấn phẩm pháp lý khác các tác giả định nghĩa lỗi như là căn cứ để xác định trách nhiệm dân sự dựa trên trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của một người đối với hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra1. Khi so sánh khái niệm lỗi ở trên với định nghĩa lỗi trong khoa học luật hình sự cũng như so sánh khoản 2 Điều 309 BLDS với Điều 9 và Điều 10 Bộ Luật hình sự (BLHS) chúng ta nhận thấy rằng các tác giả trên và người soạn thảo khoản 2 Điều 309 BLDS đã lấy toàn bộ ý tưởng dùng để xây dựng yếu tố lỗi trong cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS.

TINH THẦN PHÁP LUẬT (The spirit of laws)

TINH THẦN PHÁP LUẬT (The spirit of laws)

XÃ HỘI DÂN SỰ: KHÁI NIỆM VÀ CÁC VẤN ĐỀ

BÙI QUANG DŨNG

Xã hội dân sự hiện đang là vấn đề được cả giới nghiên cứu khoa học lẫn các nhà họach định chính sách quan tâm. Khái niệm "xã hội dân sự” xuất hiện khá sớm ở Châu Âu. Các đinh nghĩa phổ biến về "xã hội dân sự” hiện nay đều nhấn mạnh tới tinh thần tự nguyện của công dân trong việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và giá trị của mình. Theo đó, xã hội dân sự được tạo lập bởi các đoàn thể nhằm kết nối giữa những nhóm quyền lợi hiện đại và những tổ chức truyền thông, giữa các tổ chức chính thức và phi chính thức. Ở Việt Nam, ngoài các tổ chức xã hội truyền thông, nhiều tổ chức xã hội mới đã và đang ra đời. Các tổ chức đó đang tích cực tham gia và đóng góp vào nhiều họat động xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam trong điều kiện mới.

Hiện nay, không một tư duy về hoạch định chính sách phát triển nào có thể tránh bàn luận tới vấn đề "xã hội dân sự". Xã hội dân sự trở thành một điểm then chất trong các cuộc thảo luận của cả giới nghiên cứu khoa học lẫn các nhà họach định chính sách, đặc biệt tại tác nước đang ở trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Bài viết này trình bày những nội dung chủ yếu liên quan tới vấn đề xã hội dân sự, cụ thể là một số vấn đề chung và những thảo luận sơ bộ về tình hình "khu vực dân sự" ở Việt Nam trong quá trình đổi mới.

XÃ HỘI DÂN SỰ

GS. LARRY DIAMOND

Xã hội dân sự là gì và không là gì Xã hội dân sự ở đây được hiểu là một mảng của đời sống xã hội có tổ chức, mang tính tự nguyện, tự tái tạo, (hầu như) tự tài trợ, độc lập với nhà nước, và gắn bó với nhau bằng một trật tự pháp lý hay một số nguyên tắc chung. Nó khác với “xã hội” nói chung ở chỗ nó gồm các công dân hành động tập thể trong môi trường công (public sphere) để thể hiện các lợi ích, quan tâm và các ý tưởng của họ, cũng như trao đổi thông tin, giành các mục tiêu chung, yêu sách với nhà nước, và trông chừng các quan chức. Xã hội dân sự là một thực thể trung gian, nằm giữa môi trường tư (private sphere) và nhà nước. Như vậy, nó loại trừ đời sống cá nhân và gia đình, các hoạt động nhóm hướng nội (ví dụ như thể thao, giải trí hay tâm linh), các hoạt động kiếm lời của các doanh nghiệp, và các nỗ lực chính trị nhằm giành quyền kiểm soát chính quyền. Các nhân vật trong xã hội dân sự cần sự bảo vệ bởi một trật tự pháp luật được thể chế hoá nhằm bảo đảm quyền tự trị của họ và quyền tự do hành động. Do đó, xã hội dân sự không chỉ hạn chế sức mạnh nhà nước mà còn đem lại chính nghĩa cho quyền lực nhà nước, khi quyền lực đó dựa trên pháp quyền (rule of law). Khi bản thân nhà nước lại không có luật lệ và coi thường quyền tự trị của cá nhân và các nhóm, xã hội dân sự vẫn có thể tồn tại (dù chỉ dưới hình thức sơ khai hay hoang tàn) nếu như các thành tố của nó vận hành theo một nhóm các nguyên tắc được chia sẻ (thí dụ như những [nguyên tắc] tránh sử dụng bạo lực và tôn trọng đa nguyên). Đây là điều kiện không thể tối giản trong chiều cạnh “dân sự” của nó [1].

VÕ NGUYÊN GIÁP: MỘT VỊ TƯỚNG, MỘT LUẬT GIA CỦA NHÂN DÂN


Ngày hôm nay, 13/10/2013, người dân cả nước đã tiễn biệt Đại Tướng Võ Nguyên Giáp trở về với Đất Mẹ, quê hương Quảng Bình của Ông. Cả đất nước chìm trong nỗi buồn và lòng tiếc thương vô hạn!Đại tướng không chỉ được biết đến là một vị tướng tài ba, một nhà sử học, nhà chính trị yêu nước, thương dân, mà còn là một luật gia yêu chuộng hòa bình và công lý.Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã học luật tại  Đại học Đông Dương[1] và ông nhận bằng cử nhân luật (Licence en Droit) vào năm 1937.[2]Theo sử sách, trong thời gian học luật, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một người học giỏi. Ông đã tham dự cuộc thi sinh viên giỏi toàn Đông Dương với đề tài: “Cán cân thanh toán và cán cân thương mại của Đông Dương”. Ông đã đoạt giải nhất với đề tài này. Giáo sư Khérian, người giảng Luật ở Đại học Đông Dương đã đánh giá luận văn này: “nội dung sáng sủa, có phương pháp và có bản sắc cá nhân”[3]

16 tháng 6, 2014

TRAO ĐỔI VỀ BÀI “TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HÌNH THỨC LỖI ĐẾN VIÊC XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIÊM HỢP ĐỒNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TRUNG THỰC VÀ THIÊN CHÍ”

NGUYỄN XUÂN QUANG
ThS. luật học, ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

 Trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 1(38)/2007 có đăng bài “Tác động của các hình thức lỗi đến việc xác định trách nhiệm hợp đồng nhìn từ góc độ trung thực và thiện chí” của hai tác giả TS Dương Anh Sơn và ThS Nguyễn Ngọc Sơn. Trong bài viết trên, các tác giả đã đề cập đến vấn đề xác định thời hiệu trong Bộ luật Dân sự (BLDS). Theo đó, những kiến nghị mà các tác giả đưa ra có thể nói, đã đề xuất một cách tiếp cận khá mới mẻ so với phương pháp tiếp cận truyền thống ở nước ta về vấn đề thời hiệu đã được thừa nhận trong BLDS. Cách tiếp cận mới này có thể mở ra một chiều tư duy mới về vấn đề xác định thời điểm khởi kiện về giao dịch vô hiệu cũng như thời điểm khởi kiện các tranh chấp dân sự nói chung.Một mặt đánh giá cao phương pháp tiếp cận trên cũng như những nội dung khác của bài viết. Mặt khác, sau khi đọc bài viết này chúng tôi thấy còn một số vấn đề cần trao đổi lại với các tác giả trên quan điểm khoa học về những ý kiến mà các tác giả đưa ra. Cụ thể là vấn đề các vấn đề sau:Thứ nhất, về thời điểm tính thời hiệu khởi kiện xin tuyên bố giao dịch vô hiệu tại các Điều 130, 131, 132, 133 và 134 BLDS trong trường hợp lừa dối, đe dọa.- Đối với trường hợp khởi kiện xin tuyên bố giao dịch vô hiệu do bị lừa dối. Các tác giả cho rằng lừa dối là hành vi có chủ định được che dấu một cách rất khôn khéo nên bên bị lừa dối đã không thể biết được khi giao kết. Theo đó, thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ thời điểm giao kết là không hợp lý. Thời điểm hai năm tính thời hiệu cần phải quy định tính từ khi bên bị lừa dối biết được hay buộc phải biết được là mình bị lừa dối thì sẽ chính xác hơn.

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HÌNH THỨC LỖI ĐẾN VIỆC XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM HỢP ĐỒNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGUYÊN TẮC TRUNG THỰC VÀ THIỆN CHÍ

  DƯƠNG ANH SƠN
 TS. luật học, Khoa Kinh tế – Đại học Quốc gia TP. HCM
  NGUYỄN NGỌC SƠN
  ThS. luật học, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

       TẠP CHÍ KHPL SỐ 1(38)/2007

 1. Đặt vấn đề: Trung thực, thiện chí là một trong những nguyên tắc nền tảng của việc ký kết và thực hiện hợp đồng, được ghi nhận không những trong pháp luật hợp đồng của Việt Nam mà còn được quy định trong pháp luật của nhiều nước[1]. Giữa hành vi vi phạm hợp đồng với nguyên tắc nói trên tồn tại mối quan hệ tương hỗ. Chúng tôi cho rằng, vi phạm hợp đồng cố ý là biểu hiện của sự không trung thực, thiện chí, còn không cố ý vi phạm hợp đồng có thể không vì không thiện chí, trung thực.Lý thuyết về hợp đồng mà pháp luật của Việt Nam và pháp luật của các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa sử dụng đã chỉ ra rằng, lỗi là một trong những căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói riêng. Trong khi đó pháp luật của các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ lại không coi lỗi là một trong các yếu tố để xác định trách nhiệm hợp đồng. Sự khác biệt nói trên có lẽ là do truyền thống pháp luật, truyền thống được hình thành từ các nguồn gốc không giống nhau. Các văn bản pháp lý quốc tế về hợp đồng, ví dụ Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, có lẽ để hài hòa giữa hai hệ thống pháp luật nói trên, thay vì xác định bên vi phạm có lỗi hay không đã xác định hành vi vi phạm hợp đồng có phải là hậu quả của tình huống bất khả kháng hay không.

SỨC SỐNG CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC SO SÁNH VỚI BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP, ĐỨC, HÀ LAN

Bùi Thị Thanh Hằng; Đỗ Giang Nam - Bộ môn Luật dân sự, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Ở Việt Nam, tính từ năm 1995 đến nay đã có hai Bộ luật Dân sự – BLDS (BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005) và hiện chúng ta cũng có kế hoạch xem xét xây dựng BLDS thứ ba trong vài năm tới. Như vậy, tuổi thọ trung bình của BLDS nước ta là 10 năm. Một trong những lý do khách quan dẫn đến tuổi thọ khiêm tốn của BLDS Việt Nam là sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế cũng như quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng.Bên cạnh đó, một lý do khiến BLDS Việt Nam chưa có sức sống cao và phải liên tục sửa đổi là nó chưa đạt được chuẩn mực cần có. Nghĩa là BLDS chưa có một cấu trúc hợp lý, logic cho hệ thống quy phạm dân sự; còn lúng túng trong việc lựa chọn ngôn từ diễn đạt và chưa nhìn nhận đúng vai trò của Tòa án trong việc giải thích pháp luật. Bài viết đề cập dưới góc nhìn so sánh với BLDS Pháp, Đức, Hà Lan nhằm góp phần hoàn thiện BLDS với tính cách là một văn bản thống nhất, làm nền tảng cho cả hệ thống luật tư.1. Cấu trúc cần có của Bộ luật Dân sự Việt NamBàn về BLDS Pháp, nhiều học giả coi đó là “bản Hiến pháp” của dân luật hay ví nó như một đài kỷ niệm1. Sự so sánh này một mặt cho thấy vị trí vô cùng quan trọng nhưng rất gần gũi, quen thuộc của BLDS Pháp đối với mỗi người dân trong cuộc sống hàng ngày. Mặt khác, nó cũng khẳng định tính ổn định, khả năng vượt thời gian của BLDS Pháp2 và tầm ảnh hưởng vô cùng to lớn của BLDS Pháp đối với pháp luật dân sự thế giới3.Việc ví von BLDS như một đài kỷ niệm làm chúng ta không khỏi liên tưởng đến mối liên hệ giữa BLDS với quy phạm tạo nên nó như là mối liên hệ giữa một công trình kiến trúc kỳ vĩ được tạo nên bởi những viên gạch bình dị nhờ sức sáng tạo của những kiến trúc sư tài ba được thể hiện thông qua việc xây dựng kết cấu, sự sắp đặt tinh tế, khéo léo và sự lựa chọn những viên gạch cho công trình đó. Nói cách khác, điều trước hết cần phải làm khi xây dựng một văn bản pháp luật – trong đó có BLDS – là phải lựa chọn được cấu trúc thích hợp, đảm bảo an toàn về mặt pháp lý. Với tầm quan trọng như thế, cấu trúc của một bộ luật nhất thiết phải được xây dựng đầu tiên để giới hạn phạm vi những vấn đề được đưa vào BLDS và những vấn đề được đặt trong những đạo luật riêng (luật chuyên ngành), đồng thời xác định tương quan giữa BLDS và các luật chuyên ngành, tránh việc đưa vào Bộ luật những nội dung pháp lý không thuộc bản chất của dân sự4.Là một văn bản nền tảng cho cả hệ thống luật tư, việc xây dựng BLDS phải đảm bảo thống nhất về tính rõ ràng, tính xác định và tính có thể dự báo trước được5. Tuy nhiên, BLDS cũng phải hàm chứa trong nó sự mềm dẻo, linh hoạt, đáp ứng nhu cầu giải quyết các tình huống phát sinh trong đời sống xã hội do đặc tính quan hệ dân sự – là những quan hệ luôn biến động cùng sự vận hành, phát triển của xã hội dân sự và nền kinh tế thị trường.Để đạt được điều này, cấu trúc của bộ luật phải được thiết kế theo một mô hình chặt chẽ được tuân thủ từ đầu cho đến cuối của bộ luật với những quy định chung được đặt trước các quy định chi tiết. Điều này sẽ tạo sự hài hòa trong từng quy phạm của bộ luật và sự hài hòa về tổng thể của bộ luật6. Mặt khác, kết cấu này còn tạo ra khả năng chỉ dẫn cao, cho phép người sử dụng tiếp cận một cách dễ dàng lĩnh vực mà người đó quan tâm cũng như cả bộ luật. Việc tạo ra một mô hình có cấu trúc chặt chẽ, có tính thống nhất cao như BLDS Pháp là cách hữu ích giúp chúng ta tránh được sự lặp lại không cần thiết nhiều điều khoản như BLDS hiện hành7.

15 tháng 6, 2014

NHẦM LẪN TRONG CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG: NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ

TS. ĐỖ NGỌC ĐẠI – Đại học Luật TPHCM
Dẫn nhập
Hợp đồng là kết quả của sự ưng thuận giữa các bên. Trong thực tế, không hiếm trường hợp sự ưng thuận này có «khiếm khuyết» và nhìn chung, pháp luật hợp đồng các nước đều dự liệu ba trường hợp «khiếm khuyết» cho phép tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Đó là nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa trong quá trình giao kết hợp đồng. Ở Việt Nam, vấn đề xử lý lừa dối hay đe dọa trong giao kết hợp đồng đã tồn tại khá sớm. Một số quy định trong Bộ luật Hồng Đức (thế kỷ 15) đã tiềm ẩn những quy định về hai «khiếm khuyết» này. Chẳng hạn, về lừa dối, theo Điều 187, Bộ luật Hồng Đức, “trong các chợ tại kinh thành và thôn quê, những người mua bán không theo đúng cân, thước, thăng, đấu của Nhà nước mà làm riêng của mình để mua bán thì xử tội biếm hoặc đồ”. Tương tự, theo điều 190 «người dùng thăng, đấu, cân, thước để mua bán lấy lợi riêng thì tội cũng như tội ăn trộm». Cũng tương tự, Điều 191 phạt “những người làm đồ khí dụng giả dối và vải lụa ngắn hẹp để đem bán” 50 roi, giáng hạ một bậc, và bắt sung công hàng hóa. Vềđe dọa, theo Điều 198, Bộ luật Hồng Đức, “những người từ chối không tiêu tiền đồng bị sứt mẻ hoặc đòi giá hàng quá cao mới bán, hay là đóng cửa hàng không bán để bán giấu ở trong nhà, thì đều phải tội hạ bậc và bắt diễu đi trước công chúng 3 ngày. Những hàng hóa nói trên đều bị tịch thu sung công. Những người cậy quyền mua hàng ức hiếp, thì cũng bị tội như thế”. Tương tự, theo Điều 355, Bộ luật Hồng Đức, “người nào ức hiếp để mua ruộng đất của người khác thì phải biếm hai tư và cho lấy lại tiền mua”. Tuy nhiên, trong cổ luật Việt Nam, việc xử lý khiếm khuyết trên mang nhiều màu sắc hình sự hơn dân sự so với pháp luật đương đại.

VỀ YẾU TỐ ƯNG THUẬN CỦA HỢP ĐỒNG

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia


Từ thời cổ đại, Gaius đã nhận định “Phàm nghĩa vụ đều do các khế ước hay các dân sự phạm phát sinh ra”1. Điều đó có nghĩa, hợp đồng là một nguồn gốc quan trọng của nghĩa vụ, mà có thể hiểu: chính nó – nghĩa vụ, là một trọng đề của pháp luật, là một chế định (hay tiểu phân ngành luật) nằm ở vị trí trung tâm của luật tư. Các ngành luật khác ít hay nhiều đều có sự vay mượn các kỹ thuật pháp lý có được từ việc nghiên cứu hợp đồng.

Nhấn mạnh hơn tới ý nghĩa pháp lý của hợp đồng, có tác giả định nghĩa hợp đồng là sự thống nhất ý chí nhằm xác lập các nghĩa vụ hay chuyển giao các quyền sản nghiệp (như các quyền đối vật, quyền đối nhân hay quyền sở hữu trí tuệ hay các quyền vô hình khác) từ người này sang người khác2. Có lẽ vì thế, các luật gia trước hết phải có những tri thức căn bản và hệ thống về luật hợp đồng. Các thương nhân, cũng như các nhà kinh tế học cũng cần phải có tri thức về hợp đồng ở mức độ nhất định, bởi “hợp đồng là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường”3. Nhưng trước hết cần phải hiểu hạt nhân quan trọng nhất của hợp đồng là sự ưng thuận.

1. Khái niệm về yếu tố ưng thuận của hợp đồng

Bởi hợp đồng từ thời La Mã cổ đại đã được xem là sự đồng thuận hay hiệp ý (consensus)4, cho nên sự ưng thuận của các bên kết ước bao giờ cũng được cho là điều kiện hay thành tố đầu tiên của hợp đồng. Reinhard Zimmermann xác nhận rằng, trong luật hợp đồng hiện đại, ưng thuận là khái niệm hạt nhân5. Khác hơn, Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam coi năng lực giao kết hợp đồng là yếu tố đầu tiên để áp đặt điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, còn yếu tố tự nguyện được xếp ở hàng thứ ba. Trong một chừng mực nhất định có thể nói, năng lực giao kết hợp đồng là một bộ phận hay một phần không thể không xem xét đến của thành tố ưng thuận. Có lẽ vì thế mà Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha không đề cập tới năng lực giao kết hợp đồng trong khi nói tới các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, mà chỉ nói tới nó khi phân tích điều kiện ưng thuận – một điều kiện có hiệu lực đầu tiên của hợp đồng theo Bộ luật này.

LỪA DỐI – YẾU TỐ VÔ HIỆU HỢP ĐỒNG KINH TẾ

LÊ THỊ BÍCH THỌ -  Trường ĐH Luật TP. HCM

Hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí trong việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết. ý chí giao kết hợp đồng của các bên giữ vị trí vô cùng quan trọng trong việc xác định sự tồn tại hay không của hợp đồng.

Các biểu hiện của sự không thống nhất ý chí (sự thể hiện ý chí khác nhau) hoặc sự trái ngược giữa biểu hiện với ý chí đích thực của các bên giao kết sẽ không hình thành nên một hợp đồng có hiệu lực. Nói cách khác một hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, nhầm lẫn hay đe dọa có thể không có giá trị vì trong các hoàn cảnh như vậy, các cam kết được đưa ra không xuất phát từ ý chí đích thực của người giao kết. Cũng như nhiều quốc gia khác, pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam thừa nhận lừa dối trong giao kết hợp đồng như một yếu tố có thể đưa đến sự vô hiệu của hợp đồng. Tuy nhiên, hiểu nó như thế nào, xác định các điều kiện để một lừa dối là yếu tố vô hiệu hợp đồng lại được thể hiện khác nhau trong pháp luật của mỗi quốc gia. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ dừng ở việc làm rõ các vấn đề có liên quan đến lừa dối – yếu tố vô hiệu của hợp đồng.

1. Khái niệm lừa dối trong giao kết hợp đồng

Lừa dối là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày. Theo cách nói thông thường, lừa dối là lừa bằng thủ đoạn nói dối, gian lận để làm cho người ta nhầm tưởng mà nghe theo, tin theo, ví dụ: thủ đoạn lừa dối của con buôn(1). Theo ngôn ngữ pháp luật, lừa dối là một xảo thuật dùng để lừa gạt người khác. Từ những lời lẽ gian dối đến mánh khóe xảo trá dùng để khiến người ta giao kết hợp đồng đều là lừa dối(2). Cũng có cách hiểu: “Lừa dối là hành vi cố ý đưa thông tin sai không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thậtNếu không có các thủ đoạn ấy thì bên kia sẽ không giao kết hợp đồng”(3). Các nhà khoa học pháp lý cũng như các nhà lập pháp Việt Nam coi lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó(4). Dù cách sử dụng ngôn từ có khác nhau song nội dung của các khái niệm trên là không khác nhau. Đó là, không phải bất cứ sự nói dối nào cũng đều bị coi là lừa dối và việc xác định có tồn tại hay không sự lừa dối trong giao kết hợp đồng phải có hai điều kiện: một là, một bên phải sử dụng thủ đoạn để lừa người khác và hai là, người kia phải nghe theo, làm theo một việc nào đó (giao kết hợp đồng).

XÃ HỘI DÂN SỰ, TÍNH ĐẶC THÙ VÀ VẤN ĐỀ Ở VIỆT NAM

TS. HỒ BÁ THÂM – Viện nghiên cứu phát triển TP. HCM

Cái phổ biến bao giờ cũng tồn tại thông qua cái đặc thù, cái đặc thù nào cũng gắn liền với cái phổ biến, không có cái nào tồn tại thuần túy tự nó. Nghiên cứu cái đặc thù bao giờ cũng phức tạp, khó phân định hơn. Điều đó cũng đúng với trường hợp xã hội dân sự (XHDS). XHDS ở Việt Nam cả lý thuyết, đường lối và thực tế đang đặt ra nhiều câu hỏi phải trả lời.

Đúng là ngày nay, XHDS có tính phổ biến, tinh toàn cầu, dù rằng các dân tộc tiến đế nó một cách nhanh chậm khác nhau và phát huy nó khác nhau. XHDS nói chung là sự tự tổ chức của nhân dân để thực hiện quyền làm chủ của mình, vì lợi ích của chính mình, ngoài phương thức nhà nước và thị trường. Trong quan hệ với nhà nước và thị trường, nó có cả hợp tác, đối tác và đối lập biện chứng hay nói đúng hơn là đối trọng, dù có thể mặt nào là chính là tùy theo từng chế độ chính trị và truyền thống văn hóa, tương quan lực lượng. Chủ thể quyền lực không chỉ là nhà nước mà có cả quyền lực xã hội dân sự và quyền lực thị trường.
Nhưng XHDS là sản phẩm cụ thể của từng dân tộc, nó có tính phổ biến và cả tính đặc thù.
XHDS là sản phẩm của cái gì?

CÁC NỘI DUNG CẦN NGHIÊN CỨU, CHUẨN BỊ CHO VIỆC SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 CỦA VIỆT NAM

GS. MORISHIMA AIKYO – Thành viên Ban nghiên cứu chung của JICA về Bộ Luật Dân sự Việt Nam, Giáo sư danh dự Đại học Nagoya

I. Luật Dân sự là là ngành luật tư qui đinh quan hệ dân sự bình đẳng (luật nguyên tắc)

(1) Xã hội thị dân chỉ xã hội trao đổi hàng hóa mang tính kinh tế, nghĩa là xã hội kinh tế thị trường, về mặt lịch sử đó là xã hội mà cá nhân được giải phóng khỏi những bó buộc về nhân thân của chế độ phong kiến và tất cả các các nhân được tự do về chính trị và tự do về kinh tế.
Xã hội xã hội chủ nghĩa về mặt lịch sử được xác lập từ xã hội thị dân (hoặc để giải phóng nông dân và người lao động khỏi sự bó buộc về nhân thân mang tính phong kiến), và nó tập trung quyền lực chính trị vào chính quyền trung ương và không chấp nhận quan hệ giao dịch thị trường tự do, mà phải thông qua nền kinh tế kế hoạch. Do đó, xã hội với nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thuần nhất không phải là xã hội thị dân như vừa đề cập ở trên.
Việt Nam là nước đang chuyển dịch từ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường, và do chưa có sự hình dung rõ ràng về xã hội thị dân mà mình định hướng đến là gì nên khi xây dựng Luật Dân sự (dưới đây viết tắt là LDS) là luật của nền kinh tế thị trường, sẽ gặp phải những vấn đề như xây dựng như thế nào các chế định pháp lý về quyền sở hữu, sự an toàn của giao dịch, tự do giao kết hợp đồng là những khái niệm mang tính nền tảng của trao đổi hàng hóa, và là những khái niệm không đặt ra trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tôi sẽ trình bày chi tiết đối với từng vấn đề cụ thể trong phần sau.
(2) LDS là luật điều chỉnh quan hệ bình đẳng giữa các công dân. Trong xã hội thị dân, như tôi đã đề cập ở trên, hoạt động kinh tế tự do giữa các cá nhân là nền tảng của xã hội. Do đó, vai trò của nhà nước và pháp luật là bảo đảm cho các hoạt động kinh tế tự do của tư nhân. “Nhà nước cảnh sát” → ”Nhà nước phúc lợi”.

PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG VÀ NGUYÊN TẮC KHI GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

THS. NGUYỄN THỊ GIANG & NGUYỄN MAI HẠNH

Để tồn tại và phát triển, cá nhân hay tổ chức đều phải tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau, trong đó việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng vai trò quan trọng và là tất yếu đối với đời sống xã hội. Song, việc chuyển giao các lợi ích này không phải tự nhiên thiết lập mà chỉ được hình thành khi có hành vi có ý chí của của chủ thể, như C. Mác đã từng nói: "Tự chúng, hàng hoá không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được. Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó"[1].

Theo đó, chỉ khi có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên, thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hình thành và được gọi là hợp đồng dân sự. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển chung của xã hội, của việc giao lưu, buôn bán, hợp tác kinh tế, thương mại, đã dẫn đến việc hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể khác nhau như hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động… Theo đó, hợp đồng theo nghĩa chung nhất được hiểu là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ cụ thể.
Trong pháp luật tư sản, chế định hợp đồng tồn tại trong lĩnh vực công pháp và tư pháp, song đặc biệt phát triển trong lĩnh vực tư pháp. Điều 1101 Bộ luật Dân sự Napoleon quy định, hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó.[2] Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý, khoa học của khái niệm này, tại Điều 1101 Bộ luật Dân sự Pháp hiện hành cũng đưa ra định nghĩa tương tự như vậy về hợp đồng.[3]
Trước hết, theo PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, thì cần phải phân biệt hai loại hợp đồng là hợp đồng hành chính và hợp đồng dân sự. Bởi hai loại hợp đồng phải tuân theo chế độ pháp lý khác nhau và khi có tranh chấp xảy ra cũng được giải quyết ở hai loại toà án khác nhau. Cơ sở để phân biệt hai loại hợp đồng này là có hay không có sự bình đẳng giữa các chủ thể pháp luật. Cụ thể, trong hợp đồng dân sự, các chủ thể luôn có quan hệ bình đẳng; còn trong hợp đồng hành chính một bên luôn là pháp nhân công quyền tham gia vì lợi chung, còn bên kia có thể là pháp nhân công hoặc tư hoặc là cá nhân và vì lợi ích của mình, vì thế vấn đề bình đẳng giữa các chủ thể khó có thể đạt được.[4]
Dựa trên những căn cứ khác nhau, Bộ luật Dân sự hiện hành của Cộng hoà Pháp phân chia hợp đồng thành 8 loại sau:

TÍNH CHẤT ĐỀN BÙ CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

TS. BÙI ĐĂNG HIẾU – Đại học Luật Hà Nội

Tính chất đền bù lợi ích được coi là một trong những đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật dân sự. Tính chất đền bù đó được thể hiện một cách rõ nét nhất trong chế định hợp đồng dân sự. Hợp đồng mang tính đền bù là những hợp đồng mà trong đó một bên sau khi thực hiện nghĩa vụ cho bên đối tác sẽ nhận được những lợi ích vật chất ngược lại từ phía bên kia. Việc phân tích tính chất đền bù giúp xác định bản chất pháp lý của từng hợp đồng, từ đó áp dụng các quy định pháp luật để giải quyết tranh chấp phát sinh một cách chuẩn xác.Dựa vào tính chất đền bù mà hợp đồng dân sự được chia thành ba nhóm: 1) Nhóm các hợp đồng luôn không đền bù; 2) Nhóm các hợp đồng có thể đền bù hoặc không đền bù; 3) Nhóm các hợp đồng luôn đền bù. Việc xếp mỗi hợp đồng thuộc nhóm nào dựa trên các quy phạm định nghĩa được quy định trong Bộ luật dân sự.
Nhóm thứ nhất – Các hợp đồng luôn không đền bù, bao gồm hợp đồng tặng cho tài sản và hợp đồng mượn tài sản.

14 tháng 6, 2014

Tuyển dụng

Thông Tin tuyển dụng cử nhân Luật
Trung cấp tổng hợp Tp.HCM tuyển dụng

Nghiên Cứu Luật Biển












BẢN CHẤT CỦA HỢP ĐỒNG TẶNG CHO - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT HỌC SO SÁNH

      PGS.TS. Dương Anh Sơn, Khoa Luật Kinh tế, ĐH Kinh Tế - Luật Tp.HCM   

             1. Dẫn nhập: Hợp đồng tặng cho là một trong những công cụ pháp lý được hình thành lâu đời nhất trong pháp luật dân sự. Ngay từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ I trước Công nguyên trong Luật La Mã hợp đồng tặng cho được coi là một trong những cơ sở làm phát sinh quyền sở hữu và được quy định một cách cụ thể, chi tiết. Trong Bộ Luật Dân sự Bắc kỳ và Bộ luật Dân sự Trung kỳ hợp đồng tặng cho cũng dành được sự quan tâm đáng kể[1]. Trong Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005, hợp đồng tặng cho được coi là một trong những hợp đồng dân sự thông dụng và được  quy định trong phạm vi 6 Điều luật (từ các Điều 465-470). Như vậy có thể nhận thấy Bộ luật Dân sự 2005 chỉ dành một số lượng khiêm tốn các điều luật cho loại hợp đồng này, có lẽ chính vì vậy nên trong thực tiễn xảy ra nhiều trường hợp mà pháp luật không thể giải quyết được, ví dụ, bản chất của hợp đồng tặng cho, những giới hạn của hợp đồng và vấn đề huỷ bỏ hợp đồng sau khi hợp đồng đã có hiệu lực. Trong phạm vi bài viết tác giả cố gắng phân tích, so sánh để làm sáng rõ những vấn đề được đặt ra.

13 tháng 6, 2014

HIỆU LỰC CỦA CHẤP NHẬN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT SO SÁNH


TS. Ngô Huy Cương - Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

“Chấp nhận chỉ có hiệu lực khi đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện hay tiêu chuẩn của chấp nhận”. Đây là quy tắc chung mà bất kỳ luật gia nào cũng phải thừa nhận. Nhưng có một vài sự đáp ứng điều kiện của chấp nhận rất khó đánh giá. Nên có thể có các quy chế riêng, đôi khi gây tranh luận. Chẳng hạn Unidroit cho rằng, về nguyên tắc chung, chấp nhận bằng hành động chỉ có hiệu lực khi người đề nghị được thông báo về hành động đó. Như vậy khó có thể phân biệt giữa chấp nhận bằng hành động với chấp nhận bằng các cách thức khác khi người đề nghị nhận được một thông báo “Tôi đã hành động theo đề nghị của quí ngài”? Tuy nhiên Unidroit cũng đã nhấn mạnh rằng những thông báo như vậy chỉ cần thiết nếu bản thân hành động không bao hàm sự thông báo chấp nhận trong một khoảng thời gian hợp lý1.
Chấp nhận đề nghị là giao kết hợp đồng, tuy nhiên nhất thiết phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định2. Hợp đồng được giao kết là hậu quả pháp lý mấu chốt và quan trọng nhất của chấp nhận. Nói cách khác, đó chính là điểm mấu chốt của hiệu lực của chấp nhận. Tuy nhiên trước tiên cần phải nghiên cứu thời điểm chấp nhận có hiệu lực và thời điểm hợp đồng được giao kết.
Thời điểm chấp nhận có hiệu lực theo pháp luật Việt Nam chính là thời điểm người đề nghị nhận được chấp nhận. Mặc dù Điều 397, khoản 1 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 không có quy định rõ ràng về thời điểm này. Song nếu giải thích nó trong mối quan hệ với các Điều 391, khoản 1 và Điều 400 của BLDS 2005, thì chúng ta có kết quả nêu trên.