Dịch

19 tháng 6, 2014

Kinh Doanh Vàng ở Việt Nam đôi điều suy nghĩ



Trong lý thuyết tài chính, ai cũng biết vai trò chức năng của Ngân Hàng trung ương là độc quyền phát hành tiền để chính phủ có thể điều chỉnh được lượng tiền lưu thông để có thể kiểm soát lạm phát; là trung tâm thanh toán, chuyển nhượng, bù trừ của các ngân hàng trung gian giúp ngân hàng trung ương kiểm soát, theo dõi, quản lý hoạt động của toàn bộ hệ thống tài chính trong nước; quản lý dự trữ bắt buộc của hệ thống ngân hàng trung gian;là cứu cánh cho vay cuối cùng của hệ thống ngân hàng trung gian; là chủ ngân hàng của chính phủ với nghiệp vụ là cho vay, ngân hàng trung ương làm thay đổi lượng tiền tệ trong nền kinh tế, nghĩa là can thiệp vào những biến động của kinh tế vĩ mô; thay mặt chính phủ tổ chức thu thuế qua hệ thống ngân hàng của nó, trong các thỏa thuận tài chính, viện trợ, vay mượn, chuyển nhượng và thanh toán với nước ngoài, phát hành trái phiếu, cổ phiếu…cho chính phủ; là cố vấn tài chính cho chính phủ trong chính sách tài chính và kinh tế. Ngân hàng trung ương là ngân hàng trực tiếp quản lý dự trữ quốc gia và điều tiết kinh tế vĩ mô.Còn vai trò của vàng, ai cũng biết tầm quan trọng của kim loại hiếm này. Nguyên tố vàng chỉ hình thành qua các vụ nổ của siêu sao trong vụ trụ, tác dụng của nó được sử dụng nhiều trong công nghiệp điện tử và vai trò chính của nó là phòng ngừa rủi ro trong cuộc sống nên nó là phương tiện, là cứu cánh cho đời sống của cá nhân khi khó khăn. Khi đồng tiền bất ổn, chứng khoán rủi ro, kinh doanh nguy hiểm thì người ta tìm đến vàng để phòng thủ.
Lưu trữ tài sản bằng kim loại quí là một hình thức đã có từ rất lâu. Trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước, khi lạm phát tiền đồng đang phi mã, ngoại tệ được độc quyền bởi nhà nước thì người dân tích trữ hàng hoá (phân phối hoặc ngoài chợ đen). Với số ít người có điều kiện kinh tế khá giả hơn thì vàng gần như là sự lựa chọn đảm bảo an toàn, bí mật duy nhất. Bởivì vào thời điểm đó việc cất giữ hàng hoá là phạm tội đầu cơ, tích trữ vàng là vi phạm quy định pháp luật vì người dân có vàng phải nộp cho nhà nước và cả những định kiến khắt khe về quyền sở hữu cá nhân thời kỳ trước đổi mới. Vàng khi đó được giữ dưới dạng chế tác nhẫn, vòng, kiềng,...vàng thỏi hay vàng miếng có thương hiệu chiếm số ít, có thể kể ra ở đây như vàng Kim Thành.

Khi đất nước mở cửa, hoạt động kinh doanh kim loại quí có bước phát triển mới. Mức sống của người dân được nâng cao, việc mua bán vàng cũng trở nên dễ dàng thông thoáng hơn. Chức năng của vàng cũng thay đổi, không chỉ còn là phương tiện bảo đảm tài sản chống lạm phát, vật qui chiếu giá trị trong mua bán (thói quen mua bán nhà đất qui chiếu theo vàng đã từng ăn sâu một thời gian rất dài) mà đã thực sự trở thành kênh đầu tư như các loại hàng hoá khác. Vàng nữ trang hay mĩ nghệ không thể đáp ứng các chức năng đó, thay vào đấy các thương hiệu vàng miếng mạnh lần lượt ra đời. Hạn chế của vàng trang sức, mĩ nghệ là sự kém rộng rãi, giá trị phụ thuộc vào cơ sở chế tác. Một ví dụ tiêu biểu khi bán vàng nữ trang, bạn cần cố gắng bán tại đúng tiệm vàng đã chế tác ra nó mới được giá, còn nếu không vàng đó được gọi là "vàng hồi" và được định giá thấp hơn nhiều với giá bán trước. Giá trị mua hay bán của vàng miếng thương hiệu tại các địa điểm kinh doanh khác nhau cũng có độ vênh nhưng nhỏ hơn nhiều so với vàng trang sức. Khi gửi tiết kiệm ngân hàng, hoặc giao dịch trên sàn vàng cũng chỉ có loại vàng miếng được chấp nhận.
Vàng miếng hầu hết là loại vàng có độ tinh khiết 99.99, khối lượng đóng gói loại phổ biến nhất là 1 lượng, 2 lượng. Sau này để đáp ứng nhu cầu các loại nhỏ hơn như 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ đã ra đời. Do khối lượng nhỏ, công chế tác nhiều hơn, số lượng miếng ít nên giá thành các loại vàng miếng nhỏ thường có giá cao hơn các loại vàng miếng lớn 1 chút. Các thương hiệu vàng miếng phổ biến lúc này là vàng SJC, là Sản phẩm của Công ty Vàng bạc đá quí Sài gòn SJC, Vàng AJC hay AAA là sản phẩm của Tổng Công ty Vàng AGRIBANK Việt Nam; Vàng Rồng Thăng long là sản phẩm của Công ty TNHH Vàng bạc đá quí Bảo tín Minh châu; Vàng Phượng hoàng PNJ-DAB là sản phẩm của Công ty Cổ phần vàng bạc đá quí Phú Nhuận (PNJ) và Ngân hàng Đông Á (DAB); Vàng ACB là sản phẩm của Ngân hàng Á Châu; Vàng Thần tài Sacombank-SBJ là sản phẩm của Công ty vàng bạc đá quý Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín-SBJ. Trong các thương hiệu vàng miếng này, vàng miếng SJC của Công ty TNHH Nhà nước MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) là phổ biến và lưu hành rộng rãi nhất và các loại vàng miếng này cùng lưu thông phục vụ cho nhu cầu của người dân. Công ty SJC là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trực thuộc Thành ủy TP. Hồ Chí Minh,
• Năm 2011: Đảm bảo giá vàng trong nước chênh lệch không quá 400,000 đồng với thế giới.
Trong quá trình điều hành nền kinh tế, giá vàng trong nước lúc này luôn luôn cao hơn giá vàng thế giới khoảng 400,000 đồng. Vào giữa năm 2011, trước tình hình giá vàng thế giới tăng cao vượt mốc 1.900 USD/ounce, giá vàng trong nước đã lên đến 49 triệu đồng/lượng, trong cuộc giao ban báo chí tại Bộ Thông tin - Truyền thông ngày 23/8/2011, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình thừa nhận từ tháng 7 đến nay, do giá vàng thế giới tăng cao, giá vàng trong nước có nhiều diễn biến phức tạp và do Việt Nam là một nước tiêu thụ vàng, không có mỏ khai thác lớn nên không thể có nhiều vàng để bán ra can thiệp. Số vàng hiện nay chủ yếu là nhập khẩu, nên nhiệm vụ trước mắt là điều hành làm sao để giá trong nước hài hòa với thế giới ở mức độ cho phép. Nếu mức chênh lệch quá cao sẽ dẫn đến hiện tượng đầu cơ, làm giá. Thống đốc cho rằng, nếu giá trong nước cao hơn thế giới trên 400.000 đồng/lượng là “không ổn”. Do vậy, nếu bình ổn giá vàng tránh đầu cơ, sẽ giữ giá trong nước cao hơn thế giới không quá 400.000 đồng/lượng. (theo báo Sài gòn giải phóng, ngày 24/8/2011) và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình tuyên bố sẽ đảm bảo giá vàng trong nước sát với thế giới.
Chúng ta đều biết theo lý thuyết kinh tế Bàn Tay Vô hình của Adam Smith, để bình ổn giá vàng trong thế giới thì phải xóa bớt các rào cản để vàng tự do lưu thông, như dòng chảy của nước vậy. Nếu ách tắc thì tất nhiên giá hàng hóa sẽ vọt lên. Vàng cũng là hàng hóa nên cần tự do lưu thông và cácd công ty sản xuất kinh doanh vàng cần được tự do cạnh tranh lành mạnh. Và tới năm 2012.
• Năm 2012: Độc quyền vàng miếng SJC.
Để bình ổn thị trường vàng vào khuôn khổ cho giá vàng Việt Nam ngang bằng thế giới, Nghị định 24/NĐ-CP về quản lý thị trường vàng chính thức đã được ban hành và có hiệu lực từ 25/5/2012. Với Nghị định 24, Chính phủ chính thức nghiêm cấm việc sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán; mang theo vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh của cá nhân vượt mức quy định không có giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp và mọi hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa được Thủ tướng Chính phủ cho phép, Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép…Doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: (i) Là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật; có vốn điều lệ từ 100 tỷ đồng trở lên; (2) Có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh mua, bán vàng từ 02 năm trở lên; (3) Có mạng lưới chi nhánh, địa điểm bán hàng tại Việt Nam từ 03 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên và số thuế đã nộp của hoạt động kinh doanh vàng từ 500 triệu đồng/năm trở lên trong 02 năm liên tiếp gần nhất.
Để thực hiện Nghị định này, Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 1623/QĐ-NHNN lấy thương hiệu SJC và loại bỏ các thương hiệu khác. Các công ty sản xuất kinh doanh vàng khác đều bị cấm và toàn thị trường vàng chỏ còn SJC thuộc NHNN kinh doanh và giao cho công ty SJC sản xuất giao cho NHNN để bán. Và như thế, các loại vàng thương hiệu khác SIC đều bị loại trừ và Nhà nước độc quyền nhập khẩu vàng từ thế giới về giao cho Công ty TNHH Nhà nước MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn dập thành vàng miếng SJC. Thật là là trong một nền kinh tế thị trường phải chống độc quyền, trong khi kinh tế VN đã độc quyền rất nhiều ngành như điện, nước, xăng dầu thì bây giờ lại thêm độc quyền kinh doanh vàng. Để lý giải cho việc bình ổn giá vàng cho bằng với giá thế giới, Thông đốc lại trả lời rằng, không phải bình ở giá vàng mà mục đích chính là chống lại tình trạng vàng hóa hệ thống tài chính để bình ổn tiền tệ. Do quá trình điều hành kinh tế vĩ mô không đạt mong muốn, Chính phủ nhận định rằng do tình trạng vàng hóa của nền kinh tế nên Ngân hàng Nhà nước không thực hiện được vai trò điều tiết vĩ mô. Tình trạng vàng hóa hệ thống tiền tệ nghĩa là thay vì dùng tiền để thanh toán trong các giao dịch thì người ta dùng vàng để mua nhà, mua xe…cho nên, Ngân hàng nhà nước độc quyền về phát hành tiền nhưng không thể dùng tiền VNĐ để điều hành được nền kinh tế ở cấp độ vĩ mô. Những nhà điều hành quốc gia cho rằng, tình trang đầu cơ vàng của giới đầu cơ và của người dân tích lũy đã hút quá nhiều tiền ra khỏi dòng chảy tài chính, không đưa vào sản xuất kinh doanh nên không tăng trưởng kinh kế đáng kể. Do vậy, tại cuộc gặp gỡ báo chí ngày 27/12/2012 trong Hội nghị tổng kết ngành ngân hàng năm 2012, định hướng năm 2013, người đứng đầu ngành ngân hàng Thống đốc Nguyễn Văn Bình cho biết sẽ tiếp tục triển khai chủ trương của Chính phủ về lộ trình xóa bỏ tình trạng "vàng hóa" và quản lý chặt để hạn chế tình trạng đầu cơ. Nhưng lúc này, do tình trạng độc quyền nhập khẩu và bán vàng, giá vàng trong nước với giá vàng thế giới đã vọt lên, chênh lệch hơn 2 triệu đồng
Giải thích về nguyên nhân giá vàng nội - ngoại vẫn chênh lệch hàng triệu đồng như thời gian qua, ông Bình cho biết, do các ngân hàng vẫn đang phải mua vàng vào để tất toán trạng thái của mình. "Qua báo cáo của các cơ quan chức năng lẫn báo chí đều thấy không có cơn sốt vàng nào gần đây cả. Sang năm vàng sẽ chuyển toàn bộ sang quan hệ mua - bán, sau khi các ngân hàng đóng xong trạng thái huy động vàng thì Ngân hàng Nhà nước sẽ ra tay".
Chúng ta đều biết khi độc quyền tất yếu sẽ bóp méo quy luật giá trị, người bán sẽ bán giá cao hơn giá trị thật nên chênh lệch vàng Nội-Ngoại là tất nhiên, nhưng lại được giải thích sự chênh lệch này do các ngân hàng thương mại đang tất toán trạng thái vào ngày 30/6/2013.
Tất toán trạng thái vàng là gì? Từ giữa năm 2011, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới khi ấy khoảng 1 triệu-1,5 triệu/ lượng, NHNN thành lập nhóm G5+1 (ACB, Techcom, Sacom, Exim và Đông Á + SJC) cho phép bán vàng ra để “bình ổn giá” và lấy tiền kinh doanh. Vì bán ra trong nước giá cao, và mua lại trên tài khoản nước ngoài của họ giá thấp hơn, nên kiếm lãi quá dễ, các ngân hàng nâng lãi suất huy động vàng lên, và có khả năng (lớn) các NHTM khác ngoài G5 đem vàng nhờ G5 “bán giùm”. Khi đó giá vàng lien tục tăng và các NHTM hi vọng rằng giá vàng sẽ quay đầu giảm, bán cao mua lại thấp, hưởng lãi đôi đường. Tổng số vàng bán ra khi ấy, khoảng từ 16 đến 25 tấn. Ai ngờ giá vàng thế giới tiếp tục leo thang mà các NHTM lại không thể tự nhập vàng về từ tài khoản nước ngoài của họ vì NHNN giành độc quyền xuất-nhập vàng, nên các NHTM lỗ nặng. Đến khi các NHTM lâm vào trạng thái đáo hạn trả vàng cho dân thì lại không có đủ, nên lâm vào khủng hoảng, NHNN (có 1 phần lỗi trong tình cảnh là giành quyền độc quyền khiến NHTM không thể nhập vàng từ NN trước đó) phải ra tay cứu giúp bằng cách “đấu thầu” vàng khi lệnh “hạn chót tất toán trạng thái” ban ra vào ngày 30/6/2013. Vàng đó từ dự trữ ngoại hối quốc gia.
Tuy nhiên, Thống đốc không quên nhấn mạnh là nhà điều hành "ra tay" bằng cách xuất vàng ra bán để tăng thêm nguồn dự trữ quốc gia chứ không phải để bình ổn giá như tuyên bố vào năm 2011 nữa mà thể hiện quan điểm sẽ không có chuyện giá vàng trong nước liên thông với giá thế giới trong điều hành giá vàng năm 2013. Theo đó, nhà điều hành sẽ không đặt vấn đề giá vàng trong nước với thế giới phải sát nhau mà là bình ổn thị trường. Thống đốc cũng nói rõ, "bình ổn" ở đây là dưới góc độ kinh tế vĩ mô chứ không phải bình ổn giá vàng.
• Qua 30/6/2013, Ngân hàng Nhà nước thông báo đã tất toán xong, lúc này giá vàng Nội- Ngoại chênh lệch vọt lên tới xấp xỉ 4triệu đồng/lượng.
NHNN nhập vàng về và giao cho SJC dập thành vàng miếng và bán sỉ, tính đến giữa tháng 8/2013, NHNN đã bán ra gần 54 tấn vàng (hơn 1,4 triệu tấn SJC). Lý giải về việc bán vàng này là chống lại xu hướng vàng hóa tiền tệ, tách vàng ra khỏi hệ thống tiền tệ. Nhưng với kiến thức về tài chính, ta thấy rằng càng bán vàng cho thị trường thì càng tiếp tay cho xu hướng vàng hóa.
Từ tất cả các vấn đề xâu chuỗi lại, chúng ta khó mà hiểu được sự thật gì ở các chủ trương này. Tuy nhiên, nếu đứng trên cơ sở lý luận về kinh tế chính trị, chúng ta thấy rằng xu thế độc quyền của các nhà nước tập quyền là tập trung quyền lực, nhất là quyền lực kinh tế thì việc độc quyền về sản xuất kinh doanh vàng miếng cùng với điện nước, xăng dầu…và đến mức đỉnh cao là nhà nước của cơ chế tập trung bao cấp đang quay lại những thập niên 80 thế kỷ trước. Vai trò chức năng của NHNN như đã trình bày ở trên đang không được tập trung mà lại thêm chức năng mới. Chức năng này, hầu hết các lý thuyết kinh tế học trên thế giới không có. Đó là NHNN trở thành công ty độc quyền kinh doanh vàng. Do đó sẽ suy giảm chức năng của Ngân hàng Trung ương. Bởi lẽ bán vàng ra, đồng nghĩa hút tiền đồng về, trong khi nền kinh tế đang trì trệ, thiếu thanh khoản, nỗ lực giảm lãi suất cũng vì thế mà thêm khó khăn, dự trữ quốc gia thâm hụt. Chính sách độc quyền vàng khiến cho vàng càng khó mua, khó mua thì người ta thủ, giữ khư khư, làm chênh lệch 1 cách khủng khiếp và chủ trương chống vàng hóa nền kinh tế giảm hiệu lực. Tôi không dám suy nghĩ sâu hơn, nhưng với cách điều hànhhệ thống tài chính quốc gia như vậy, khi mà Nhóm lợi ích càng ngày càng lộng hành và không ít dân kinh doanh đều hiểu có 1 bàn tay vô hình nào đó tác động làm suy giảm nền kinh tế quốc dân. Vụ án bầu Kiên là 01 minh chứng hệ lụy rõ ràng trong đó, có không ít dính dáng đến vàng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.