Dịch

19 tháng 6, 2014

Trích đoạn trong cuốn sách “kỹ năng tiếp cận việc làm nghề luật” của Ths. Lê Học Lâm


BÀI 1. CÁC KỸ NĂNG NGHỀ LUẬT VÀ CÁC VIỆC
LÀM LIÊN QUAN ĐẾN NGHỀ LUẬT
         1. CÁC KỸ NĂNG ĐÃ HỌC Ở TRƯỜNG LUẬT
1.1. Khả năng tổng hợp, khái quát, tóm tắt vấn đề:
Trong các trường luật, qua các môn học nghiên cứu hồ sơ, giải quyết các tình huống và tập diễn án, các sinh viên luật có khả năng tóm tắt khái quát vấn đề mà thân chủ trình bày. Khi tiếp xúc với khách hàng, họ thuật lại nội dung vụ án, những oan khuất cũa họ nhưng cách trình bày của khách hàng không theo nội dung rõ ràng mà mâu thuẫn, lộn xộn và hầu như theo ý chí chủ quan của họ rằng họ đúng và che mất các yếu tố bất lợi. Do vậy, các trường luật thường rèn luyện cho sinh viên khả năng nắm bắt vấn đề một cách tóm tắt để xác định quan hệ pháp luật gì? Bạn cần phân tích các hành vi xảy ra trong vụ kiện, sau đó sâu chuỗi tất cả những hành vi này này thành một hệ thống, thấy đâu là nguyên nhân, là điều cốt lõi của vụ kiện hay là một cánh cửa mở để đi theo nó mà thu thập thông tin tiếp. Tất cả những sự tư duy này luôn phải đảm bảo nguyên tắc logic chứ không thể đem cách suy nghĩ cảm tính vào được. Sự tư duy này gọi là tư duy pháp lý.

Mặt khác, khả năng này còn là đơn giản hóa những ý tưởng phức tạp, lọc ra những vấn đề cơ bản qua việc các sinh viên đã học cách đánh giá chứng cứ và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp.
Khi đã rèn luyện được tư duy pháp lý, các bạn sẽ thấy việc ứng dụng vào công việc sẽ dễ dàng và có hiệu quả. Điều quan trọng hàng đầu và then chốt là làm được việc hay không trong sự nghiệp của bản thân. Có một nghịch lý là, có một số bạn sinh viên khi ra trường, cầm tấm bằng cử nhân đi xin việc nhưng không nơi nào nhận, hoặc nhận vào làm nhưng không làm được việc và bị sa thải. Các bạn đó quan niệm rằng tại mình học chưa cao, chưa giỏi nên đăng ký học lên cao học lấy bằng thạc sĩ và lấy cả bằng tiến sĩ luật. Đó là quan niệm chưa đúng vì các bạn đó đã đánh đồng hai vấn đề: Bằng cấp và hiệu quả. Bằng cấp chỉ là cái giấy chứng nhận mà các cơ sở giáo dục có nghĩa vụ tổ chức các kỳ thi để người học tự đánh giá mức độ tiếp thụ của bản thân trong quá trình theo học tại cơ sở giáo dục đó. Còn hiệu quả công việc là việc mình làm có đạt yêu cầu của thực tế đòi hỏi hay không. Do cơ chế sai lầm của nhà nước yêu cầu bằng cấp khi tuyển dụng là cơ chế quan lieu bao cấp, không biết cách đánh giá năng lực của người lao động trí thức nên đã dung bằng cấp để đánh giá trình độ theo mệnh đề “trình độ cao biểu hiện bằng cấp cao” từ đó tuyển dụng, lên chức, lên lương theo bằng cấp, là thừa nhận nền giáo dục Việt Nam là chân lý, tuyệt đối đúng đắn bởi đã thi đậu có bằng cấp là có trình độ giỏi. Đây là quan niệm sai trái dẫn tới tình trạng bằng cấp giả tràn lan trong xã hội, làm băng hoại đạo đức xã hội hiện nay
Tuy nhiên, có một vấn đề đáng buồn là hầu hết các trường luật đều không rèn luyện được kỹ năng tư duy pháp lý cho các sinh viên. Bởi lẽ, quá trình học tập xa rời thực tế sự truyền đạt kém chất lượng và chất lượng các văn bản pháp luật ban hành duy ý chí. Do vậy, tôi sẽ trình bày sơ lược về các yếu tố then chốt trong vấn đề rèn kỹ năng tư duy pháp lý này.
1.2. Khả năng phân tích và suy luận logic vấn đề:
Điều quan trọng nhất mà trường luật cần dạy là kỹ năng "suy nghĩ như luật sư".
Đó là kỹ năng phân tích vấn đề, kỹ năng đặt câu hỏi như một người điều tra. Ví dụ: "Nếu giết người trong khi tự phòng vệ một cách hợp lý thì không có tội". Thế nào là "tự phòng vệ"? Thế nào là "hợp lý"? Ai làm gì ai? Ai bị điều gì mà phải tự phòng vệ? Thực ra có cần phải tự phòng vệ lúc đó không? Tự phòng vệ bằng cách nào? Vũ khí nào? Vũ khí đó có hợp lý không?
Kỹ năng lý luận phân tích và hợp lý bao gồm:
- Rà soát văn bản tài liệu phức tạp, suy luận.
- Phát triển tư duy logic, tổ chức và khả năng giải quyết vấn đề.
- Sắp đặt và đánh giá các mệnh đề.
- Sử dụng lập luận quy nạp và suy luận để rút ra kết luận.
Ta lấy thí dụ: Đọc trên báo chí một vụ án, tóm lược như sau: “Trong một lần cùng đi ăn ở nhà hàng, A và B cãi nhau, A lấy con dao của nhà hàng chồm qua bàn, vung lên đâm B một nhát xuyên tim và B chết tại chỗ” thì người trong nghề luật phải phân tích rằng đây là thông tin không chính xác vì phi logic. Từ đó đi xa hơn cho các vấn đề khác như phóng viên đó viết để làm gì, Ban biên tập đó có năng lực hay không, vì sao lại có các thông tin này, có lợi và có hại cho các đối tượng nào khi đọc báo..v.v.. Ở Việt Nam hiện nay chưa có báo chí tư nhân mà tất cả gần 600 báo và tạp chí của nhà nước cho nên việc suy lý về các vấn đề này đơn giản hơn vì hầu như hoặc mang tính một chiều hoặc mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích khi sử dụng phương tiện báo chí.
Có hàng trăm câu hỏi cho một vụ việc mà một điều tra viên hay luật sư sẽ phải hỏi. Kỹ năng phân tích vấn đề là kỹ năng quan trọng nhất cho một luật gia. Rất tiếc là các trường luật của ta thường thích dạy từ chương hơn là đào tạo sinh viên đặt câu hỏi để phân tích vấn đề một cách rốt ráo.
1.3 Khả năng nghiên cứu và sưu tầm:
Là khả năng đi tìm các câu trả lời sau khi đã có câu hỏi. Đây là khả năng tìm tòi luật pháp và án lệ Việt Nam, cũng như luật pháp và án lệ các nước trong những vấn đề mà Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm. Trong thời đại hiện nay nó còn có nghĩa là khả năng tìm tòi trên mạng toàn cầu, thực hành kỹ năng tra cứu, sưu tầm cập nhật thông tin luật.
Để có các khả năng nghiên cứu luật, cần trang bị nhiều về kiến thức lịch sử, xã hội và khoa học tự nhiên. Trước một điều luật trong một văn bản, bạn không chỉ tìm hiểu quy phạm pháp luật đó có các thành phần giả định, quy định chế tài ra sao mà còn phải xác định nó bắt nguồn từ đâu, lúc nào, trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử ra sao để các nhà làm luật đưa nó vào trong văn bản và khi áp vào thực tiễn, nó mâu thuẫn với các quy phạm khác không, nó có mấy cách cách hiểu và nó sẽ vận hành ở hoàn cảnh tương lai ra sao?..v.v… Có rất nhiều các vấn đề tình huống khi nghiên cứu.
1.4. Khả năng nói chuyện trước công chúng:
Qua học tập diễn án, sinh viên có khả năng nói chuyện với số đông, đây là kỹ năng phải hoàn thiện khi tốt nghiệp. Kỹ năng giao tiếp cũng như thuyết phục, diễn giải vấn đề 1 cách khúc chiết luôn là những kỹ năng quan trọng. Hãy thử tưởng tượng xem, trong 1 phiên tòa mà vị luật sư cứ nói ấp a ấp úng, diễn đạt lủng củng, không rành mạch… thì liệu thân chủ của anh ta có bao nhiêu phần trăm thắng cuộc? Để có được những kỹ năng này, bạn cần phải chịu khó rèn luyện ngay từ bây giờ. Hãy tập nói 1 mình trước gương hay mời 1 và người bạn thỉnh thoảng tập hợp lại để cùng tranh luận về một vấn đề cùng quan tâm. Bạn cũng có thể tham gia các khóa học về kỹ năng giao tiếp. Một điều nữa là trước khi nói, bạn nên tìm hiểu thật rõ vấn đề mình sẽ nói, lên dàn bài cho nội dung mình sẽ nói.
1.5. Kỹ năng viết rõ ràng và thuyết phục:
Qua các bài viết ở trường, sinh viên có khả năng viết các bài luận cứ, các tờ trình, các công văn giấy tờ. Từ viết thư đơn giản để soạn thảo các văn bản pháp lý phức tạp, văn bản là một chức năng không thể thiếu. Các chuyên gia pháp lý phải nắm vững soạn thảo văn bản, từ cách thức trình bày các loại văn bản và sử dụng ngôn ngữ thể hiện tính cách văn hóa.
Khi có yêu cầu soạn văn bản, sinh viên xác định ngay loại văn bản về cấu trúc nội dung, định dạng hình thức, tốc độ soạn thảo, chính xác, rõ ràng
1.6. Đàm phán - Tư vấn:
Đàm phán là kỹ năng tối cần thiết. Mọi người giao tiếp với người khác theo những cách khác nhau với những lý do khác nhau, và một trong những lý do đó là khi bạn cần thứ một thứ gì từ một ai đó. Trong kinh doanh, đó có thể ở dạng sản phẩm hay dịch vụ. Bạn muốn bán một sản phẩm, bạn cần cho người khác thấy sản phẩm của bạn có ích cho mục đích của họ. Bạn muốn chào hàng dịch vụ của bạn, dịch vụ đó phải tương xứng với nhu cầu của họ. Tóm lại, cách để người khác làm cái bạn muốn là khiến họ muốn làm điều đó.
Đạt được cái bạn muốn bằng bạo lực sẽ kéo theo nhiều hậu quả. Nó không thích hợp và hiệu quả bằng phương pháp thuyết phục vì kết quả sẽ không như bạn mong muốn, thậm chí sẽ gây ra tai hại. Nếu bạn ép buộc một nhân viên đưa đơn nghỉ việc vì vi phạm nội quy công ty, mối quan hệ giữa nhà quản lý và nhân viên hay giữa nhà quản lý và tập thể (nếu nhân viên này là một thành viên trong số đó), sẽ trở nên căng thẳng.
Để nhận được cái bạn muốn, hãy cho người khác cái họ cần. Cái họ muốn có thể là gì? Sức khỏe, quan hệ gia đình, an toàn tài chính, sự thanh thản, một sự nghiệp thành công và danh tiếng là những nhu cầu cơ bản của con người. Được trân trọng và ngợi khen làm cho người ta cảm thấy mình quan trọng, từ đó phát sinh nhu cầu cần và muốn, và nó cho bạn tất cả lý do để tồn tại.
Bạn có thể cho người khác cảm giác quan trọng như thế nào? Hãy nói ra, hãy hành động, hãy cho đi một cách không vụ lợi, chân thành và toàn tâm toàn ý. Như nghĩa đen của nó, hãy nói bạn trân trọng họ như thế nào. Sự thiện chí nhận được làm cho người khác cảm thấy mình quan trọng. Bạn có thể không cần diễn tả chính xác từng từ cái cảm giác quan trọng khi bạn ở trong địa vị người nhận. Nhưng chắc chắn cái bạn không thể diễn tả phải có thật và vô giá.
Đón trước sự quan trọng. Cho người khác một vài dấu hiệu cái bạn muốn từ họ sẽ làm cho họ cảm thấy mình quan trọng. Người nhận muốn hay cần đóng góp từ người cho, có thể là đóng góp vật chất, công sức, hay cả hai. Kể cả trước khi hành động đó xảy ra, người cho mong đợi một sự cảm kích và điều đó sẽ thúc đẩy họ. Sự trân trọng đôi khi biểu lộ nhiều hơn cả từ ngữ. Một nụ cười và/hoặc một vỗ vai nhẹ là đủ. Chúng có thể đến từ cả người cho và người nhận. Người cho bày tỏ cảm giác được trân trọng. Người nhận bày tỏ cảm giác đánh giá cao món quà. Nó là cảm giác mà cả hai sẽ tận hưởng nhiều lần sau đó.
Bạn có nhận ra rằng cảm giác quan trọng, đi cùng với sự quan tâm và những lời ca ngợi, sẽ tốt cho sức khỏe, tinh thần và cả thể chất? Nó tốt cho cả người cho và người nhận. Y học đã chứng minh rằng sức khỏe có thể bị tác động bởi những cảm xúc tích cực như lời khen ngợi và sự quan tâm. Cảm giác quan trọng ảnh hưởng đến tế bào thần kinh và những cân bằng khác trong cơ thể, làm cho sức khỏe của bạn tốt hơn. Tóm lại, cảm giác quan trọng là chất chống oxy hóa của cuộc sống.
1.7. Phát triển một chiến lược để đạt được kết quả mong muốn:
Nghiên cứu các khái niệm pháp lý, trường hợp pháp luật, ý kiến tư pháp, các quy chế, quy định và các thông tin khác là một kỹ năng pháp lý quan trọng. Các chuyên gia pháp lý phải:
Có kỹ thuật nghiên cứu pháp lý.
Tìm hiểu làm thế nào để xác định vị trí và phân tích thẩm quyền pháp lý.
Nắm vững nghệ thuật giải thích theo luật định.
Tìm hiểu trích dẫn pháp lý thích hợp.
1.8. Giảng dạy:
Giảng dạy là sự tổng hợp kỹ năng thuyết trình, đám phán với sự hiểu biết về tâm lý và đạt được kết quả xác định của người học. Cho nên, khi bạn làm nghề luật, bạn nên biết giảng dạy về pháp luật. Hai vấn đề nghề luật và giảng dạy có swự tương hỗ với nhau rất mật thiết. Việc giảng dạy pháp luật giúp bạn nâng cao kỹ năng nghề luật; việc hành nghề luật sẽ giúp bạn có thực tiễn làm cho bạn giảng dạy phong phú và thuyết phục hơn. Có một điều rất bất cập hiện nay là khi bạn làm luật sư, bạn không phải là công chức nhà nước, mà trong các trường công lập, giảng viên luật trong biên chế là công chức, viên chức nhà nước; do đó, một số giảng viên luật trong biên chế không có điều kiện cọ xát thực tế và giảng bài toàn lý thuyết như nói chuyện trên trời, các tình huống thực tiễn không xử lý được nên giảm uy tín với sinh viên.
1.9. Làm việc với những người khác:
Các chuyên gia pháp lý không hoạt động trong đơn độc mà phải dựa vào các thư ký và nhân viên hỗ trợ và hợp tác với đồng nghiệp tư vấn, các chuyên gia và các nhà cung cấp để cung cấp dịch vụ pháp lý.
Kỹ năng bao gồm nhiều vấn đề như Phối hợp với những người khác để đạt được một mục tiêu chung; Phối hợp và chia sẻ thông tin và kiến thức; Chăm sóc các mối quan hệ với đồng nghiệp, nhân viên, khách hàng, các chuyên gia, các nhà cung cấp và những người khác; Tham gia nội dung nhóm, các cuộc họp và hội nghị; Truyền đạt thông tin một cách rõ ràng, ngắn gọn và hợp lý; Giao tiếp thuyết phục; Phát triển kỹ năng lắng nghe…v.v…
1.10. Thành thạo sử dụng Computer và ứng dụng internet
Công nghệ đang thay đổi cảnh quan pháp lý và là một phần không thể thiếu của tất cả các chức năng pháp lý. Để duy trì hiệu quả trong công việc của họ, các chuyên gia pháp lý phải: Xử lý văn bản, thời gian, trình bày và thanh toán, và các ứng dụng phần mềm liên quan. Sử dụng công nghệ truyền thông bao gồm cả e-mail, hệ thống nhắn tin, hội nghị truyền hình và công nghệ liên quan và phần mềm quản lý tài liệu. Do đó, bạn phải sử dụng tốt các phần mềm văn phòng thông dụng.
Bạn cũng cần phải có trình độ ngoại ngữ tốt để có thể làm việc tốt trong thời đại hội nhập ngày nay. Là một luật sư giỏi, bạn hoàn toàn có thể tham gia vào các vụ kiện tụng mang tính chất quốc tế hay các vụ kiện tụng có sự tham gia của người nước ngoài ở Việt Nam. Những vụ như vậy sẽ đem lại cho bạn rất nhiều kinh nghiệm cũng như một khoản thù lao không nhỏ đó. Đừng vì rào cản ngôn ngữ mà hạn chế tài năng của mình.
2. CÁC VIỆC LÀM SAU KHI TỐT NGHIỆP NGÀNH LUẬT
Một khẳng định chắc chắn rằng sinh viên ngành luật sau khi ra trường không làm các nghề thiên về sức lực cơ bắp hoặc không cần trình độ phổ thông như võ sĩ, bốc xếp, thợ sửa xe, thợ photocopy, làm các việc sai vặt khác…v.v… mặc dù biết thêm một nghề là có thêm lợi thế trong cuộc sống vì nó tạo cho bản thân tính dũng cảm và dám chấp nhận rủi ro khi thất thế sa cơ. Tuy nhiên, sinh viên luật đã qua đại học, họ thường không làm những công việc đó lâu dài mà thường công việc đều liên quan đến các kỹ năng đã được tích lũy trong trường luật.
Đây cũng là một vấn đề mà các bạn sinh viên luật thường hay hiểu sai về các nghề lao động tay tay chân và sẽ có hậu quả bất lợi lâu dài trong quá trình hành nghề luật. Trong quá trình là sinh viên, trong lúc thời gian rảnh rỗi; hoặc sau khi ra trường có khoảng thời gian trống khi chưa tìm kiếm được việc làm; các bạn nên tham gia vào làm các công việc ngắn hạn. Tại sao vậy? Bởi vì trong quá trình làm các công việc đó, các bạn có thêm các tư duy về cuộc sống, có cảm nhận về sự cùng khổ của người dân lao động và cảm thông chia sẻ, tạo vốn sống cho mình về các quan hệ xã hội và chứng tỏ bạn có thái độ làm việc dám xả thân. Tôi thí dụ có trường hợp rất đáng tiếc như thế này: Có những bạn sinh viên sống ở miền nông thôn lên Sài gòn học; khi ra trường rồi, lúc chưa có việc làm cứ ở nhà ngồi chơi game, trong khi có xe máy, cũng không biết chạy ra đầu hẻm chạy xe ôm để tạo sự giao tiếp xã hội; cho nên đường phố Sài Gòn cũng chưa thuộc. Khi tôi giới thiệu vào làm ở một Văn phòng Thừa phát lại, khi vị quản lý nhân sự hỏi về đường phố Sài Gòn, địa điểm một số cơ quan tọa lạc; bạn sinh viên này không biết gì cả. Bởi Thừa phát lại thường giao cho người mới vào làm công việc đơn giản nhất là tống đạt văn bản, đòi hỏi phải rành rẽ về đường phố, không để mất thời gian phải hỏi thăm đường trong khi anh này không biết sẽ gây rất nhiều phiền phức khi làm công việc đơn giản. Nếu trong thời gian rảnh rỗi, anh ta chạy xe ôm thì sẽ rất có cơ hội được tiếp nhận vào Văn phòng Thừa phát lại này.
Quan trọng hơn cả là khi làm các công việc của những người ở tận đáy xã hội, bạn có được sự đồng cảm với những người cùng khổ. Nghề luật sư là nghề góp phần bảo vệ công lý nên người luật sư phải đau cùng nỗi đau của thân chủ khi họ bị oan sai, khi nhà người ta bị cưỡng chế sai luật, gia đình người ta có người thân bị tù tội, tài sản người ta bị mất mát vì bạo lực cường quyền; đối với luật sư phải có sự cảm thông và chia xẻ. Nếu bạn không từng làm ccác công việc như vậy, bạn sẽ không tạo được niềm tin của khách hang và không góp phần bảo vệ công lý. Nếu bạn là thẩm phán thì cũng rất dễ ra các bản án oan sai vì không có sự đồng cảm với những mất mát tang thương của những người dân lao động.
Sau khi tốt nghiệp ra trường, bạn có thể làm với bằng luật? Thực tiễn cho thấy nhiều sinh viên tốt nghiệp và thành công với công việc không liên quan tới luật pháp. Họ có thể làm điều này bởi vì các kỹ năng cơ bản họ đã phát triển trong trường luật. Họ am hiểu các lĩnh vực khác nhau, từ ngân hàng đến bất động sản, ngành công nghiệp giải trí. Do vậy, chìa khóa để tìm kiếm một nghề nghiệp là các kỹ năng bạn có và sau đó chứng minh cho người sử dụng lao động những điều đó ứng dụng phù hợp như thế nào khi bạn làm việc. Cho nên, phần này, tác giả sẽ chia làm ba mục chính là các việc làm trong ngành luật theo nghĩa hẹp và các việc làm liên quan tới ngành luật theo nghĩa rộng và bạn sử dụng các kỹ năng đã có ở trường luật để hoàn thành tốt công việc và bạn không muốn làm công ăn lương mà khởi sự kinh doanh độc lập với những ngành nghề liên quan đến các kỹ năng mà bạn học ở trường luật.
2.1. Các việc làm nghề luật theo nghĩa rộng.
Theo nghĩa này, có vô số các công việc mà sinh viên luật mới ra trường có thể đảm đương như chấp hành viên, điều tra viên, giám định viên, chuyên viên pháp lý, cố vấn pháp lý, giáo viên dạy luật, cán bộ nghiên cứu pháp luật, công an viên, thư ký tòa, thư ký văn phòng … trong các cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan công an, cơ quan hành chính Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp, trường học, viện nghiên cứu… và thông dụng hơn cả là nhân viên các phòng ban nghiệp vụ của các cơ quan tổ chức
- Giáo viên: Có bằng cử nhân luật, bạn có thể làm giáo viên các bộ môn xã hội ở các trường học. Tuy nhiên, bạn cần theo học thêm một lớp nghiệp vụ sư phạm để được cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm mới được tham gia công tác giảng dạy. Bởi theo quy định hiện hành, dù đi giảng dạy bất cứ việc gì, từ dạy lái xe, dạy sửa xe củng phải có chứng chỉ này.
- Nhân viên hành chính: Đây là những việc làm tuyển dụng đông nhất và hầu hết, các sinh viên ra trường đều phải làm trước khi thành các luật sư, thẩm phán, chính khách. Lực lượng nhân viên nghiệp vụ trong các công ty, các ủy ban đều rất thiếu và làm nhân viên ở các cơ quan này là đất dụng võ cho các sinh viên mới tốt nghiệp, có thể nói các cơ quan, công ty, tổ chức hút hết số lượng các cử nhân luật mới ra trường vào làm nhân viên hành chính. Tùy theo các phòng ban nghiệp vụ trong các cơ quan, có thể liệt kê ra các công việc theo tên gọi như sau:
Nhân viên phòng tổ chức: Để làm nhân viên phòng tổ chức, bạn cần am hiểu về pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội, soạn thảo văn bản, tổ chức lễ tân…
Nhân viên phòng kinh doanh: cần chú trọng hơn về mảng luật kinh doanh, kỹ năng makerting…v.v…
Nhân viên ủy ban hành chính: Tùy theo sự phân công từng lãnh vực mà bạn cần chú trọng về kiến thức luật theo từng mảng công việc trong các ủy ban nhân dân như về mảng xây dựng, đất đai, lao động thương binh xã hội…v.v… và bạn cần tự trang bị thêm kiến thức trong các lãnh vực chuyên môn này.
Nhân viên các công ty luật, văn phòng luật sư.
Nhân viên văn phòng công chứng.
Nhân viên văn phòng thừa phát lại, chấp hành viên thi hành án.
Nhân viên Viện Kiểm Sát, Tòa án, …
Nhân viên phòng ban của ngân hàng.
Nhân viên các công ty kinh doanh mọi ngành nghề khác như thương mại, bất động sản……..
Nhân viên ban quản lý chợ, nhân viên quản lý thị trường
Nhân viên cơ quan hải quan
Nhân viên văn phòng các cơ quan hành chính khác
………………………………………………………………………
Nhìn chung, nhân viên các phòng ban nghiệp vụ trong kinh doanh, trong quản lý có rất nhiều như nhân viên phòng tổ chức, phòng kinh doanh, phòng tham mưu tổng hợp…v.v…của vô số các cơ quan trong xã hội. Hàng năm, các cơ quan này trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đều tuyển dụng liên tục vì sự luân chuyển lao động, số cũ chuyển đi, thăng tiến, về hưu…v.v…. và cần đội ngũ thay thế; còn trong các công ty thì luôn luôn có sự biến động tăng thêm khoảng từ vài trăn ngàn đến cả triệu lao động khi nhu cầu kinh tế xã hội phát triển.
-Thư ký văn phòng: Ta giả sử nhà tuyển dụng cần tuyển thư ký, có 02 ứng viên xin việc có các mặt như nhau, chỉ khác về bằng cấp. Một người có bằng cử nhân luật, còn người kia có bằng cao đẳng thư ký văn phòng, chắc chắn họ sẽ tuyển dụng người có bằng cử nhân luật vì các kỹ năng của người được đào tạo cử nhân luật khác hơn và có sự phát triển tốt hơn cho công việc.
- Nhà báo: Mặc dù bạn không tốt nghiệp đại học báo chí nhưng qua việc bạn làm công tác viên mà bài viết của bạn hay, có được số độc giả nhất định là bạn thành công. Mặt khác, với truyền thông Internet phổ quát là công cụ hữu hiệu cho bạn thực hiện thêm công việc này.
- và còn vô số các công việc khác phù hợp với sinh viên tốt nghiệp ngành luật.
2.2. Các việc làm trong nghề luật:
Ở nghĩa hẹp, nói đến những người làm nghề luật là chúng ta nói đến thẩm phán, luật sư, kiểm sát viên, công chứng viên…
Thẩm phán được hiểu là những người làm việc tại Toà án, được quyền nhân danh Nhà nước để xét xử các vụ án. Thẩm phán – ở nghĩa lý tưởng được hiểu là người được quyền ra quyết định cuối cùng để mang lại sự công bằng cho mọi người, cứu người vô tội và trừng phạt kẻ ác.
Kiểm sát viên là người buộc tội tại phiên toà (ở nước ngoài thường được gọi là công tố viên). Họ được quyền đưa một vụ phạm pháp ra xem xét để xử lý, ra lệnh bắt giữ, tham gia điều tra vụ án, truy tố người phạm tội.
Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật của mỗi quốc gia, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Luật sư là những người hành nghề trong Văn phòng hoặc Công ty luật. Thu nhập của luật sư là từ các khoản thù lao do khách hàng trả.
Công chứng viên là người làm việc tại các Phòng công chứng, có quyền xác nhận tính hợp pháp của các giao dịch, hợp đồng…
Hầu hết các nghề này đòi hỏi có kỹ năng nghiệp vụ cao mà sinh viên mới có bằng cử nhân luật chưa thể đảm đương nổi mà cần phải qua các lớp học bổ sung thêm kiến thức luật và kiến thức xã hội và kỹ năng cao và kinh nghiệm. Do đó, các nghề này chỉ là mục tiêu sau khi các bạn đã tiếp cận với các ngành nghề khác liên quan đến luật
a) Luật sư:
Ở nghĩa hẹp nhất, nói đến nghề luật là chúng ta nói đến nghề luật sư. Nghề luật sư là nghề luật tiêu biểu nhất, nghề luật sư thể hiện đầy đủ nhất những đặc trưng của nghề luật. Suy nghĩ về nghề luật sư, chia sẻ với những nghĩ suy của những luật sư có kinh nghiệm và tâm huyết với nghề, chúng ta nhìn nhận về nghề luật sư trong quá khứ để hiểu nghề luật sư hiện tại và hướng tới nghề luật sư trong tương lai như một nghề cao quý, một nghề được cả xã hội tôn vinh.
Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì yêu cầu về việc hành nghề luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp. Đây là một nét đặc thù riêng của nghề luật sư và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của luật sư. Hoạt động nghề nghiệp của luật sư bao gồm ba tính chất: trợ giúp, hướng dẫn và phản biện.
(i) Tính chất trợ giúp: Do sự phát triển không đồng đều cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần, bất kỳ xã hội nào trong cộng đồng dân cư cũng tồn tại những người rơi vào vị thế thấp kém so với mặt bằng xã hội như người nghèo, người già đơn côi, người chưa thành niên mà không có sự đùm bọc của gia đình. Những người ở vào vị thế thấp kém này thường bị ức hiếp, bị đối xử bất công trái pháp luật và rất cần sự giúp đỡ, bênh vực của những người khác và đặc biệt cần sự trợ giúp hoàn toàn vô tư, không vụ lợi của luật sư.
Ở thời kỳ cổ đại, những người dám đứng ra bênh vực, trợ giúp các đối tượng bị ức hiếp được xã hội tôn vinh như là các “hiệp sỹ”. Ngày nay, xã hội loài người đã phát triển nhưng ở nhiều nước, ở nhiều địa phương vẫn tồn tại những người ở vào vị thế thấp kém, vẫn tồn tại sự ức hiếp, sụ đối xử bất công. Hoạt động trợ giúp của luật sư đối với những đối tượng này không chỉ là bổn phận mà còn là thước đo lòng nhân ái và đạo đức của luật sư.
(ii) Tính chất hướng dẫn: Tính chất nghề nghiệp đòi hỏi luật sư không chỉ thông hiểu pháp luật hiện hành mà còn hiểu biết cả tinh thần, nội dung những quy định của pháp luật ở từng thời điểm của thời gian đã qua. Luật sư còn phải hiểu sâu rộng cả tục lệ và bản sắc văn hoá của dân tộc.
Mọi người hiểu và nghĩ về luật sư như vậy, cho nên mỗi khi bản thân hoặc gia đình có điều gì vướng mắc đều tìm đến luật sư, nhờ luật sư tư vấn. Vì vậy, hoạt động của luật sư luôn luôn có tính chất hướng dẫn. Yêu cầu của hoạt động này là hướng dẫn cho đương sự hiểu đúng tinh thần và nội dung của pháp luật để biết cách xử sự tháo gỡ vướng mắc của họ phù hợp với pháp lý và đạo lý.
(iii) Tính chất phản biện xã hội: Đây là một thiên chức của luật sư. Tính chất phản biện trong hoạt động của luật sư là những biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý kiến quan điểm của người khác mà mình cho là không phù hợp với pháp lý và đạo lý.
Tính chất phản biện trong hoạt động của luật sư, thông thường thể hiện ở lĩnh vực tố tụng, đặc biệt là trong tố tụng hình sự. Điều 36, khoản 3 Bộ Luật tố tụng hình sự hiện hành quy định: “Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.
Phản biện là phải dựa trên sự thông hiểu tường tận về pháp lý và đạo lý. Hoạt động phản biện của luật sư là lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ phải trái, đúng sai…từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp bảo vệ lẽ phải, loại bỏ cái sai, bảo vệ công lý.
Ở đây có thể có câu hỏi đặt ra là trong trường hợp không phát biện ra điều gì sai, không có cơ sở để phản biện thì luật sư sẽ làm gì?. Xin nêu một câu ngạn ngữ phương Tây: “Luật sư chỉ giỏi khi gặp Công tố viên tồi”. Câu ngạn ngữ này có nghĩa là khi người tiến hành tố tụng hoạt động hoàn toàn đúng pháp luật với những nhận định và kết luận chuẩn xác thì không còn chỗ cho luật sư phản biện. Luật sư không còn chỗ để phản biện, cũng giống như thầy thuốc không có bệnh nhân để chữa thì thật là hạnh phúc.
Hoạt động của luật sư trong trường hợp này chỉ còn ý nghĩa là người chứng kiến. Việc chứng kiến của luật sư không phải là không quan trọng. Trong nhiều trường hợp, sự hiện diện của luật sư là chỗ dựa tin cậy của bị can, bị cáo. Sự chứng kiến của luật sư trong khi hỏi cung, khi đối chất, khi xét xử đảm bảo chắc chắn rằng quyền và lợi ích hợp pháp mà pháp luật dành cho bị can, bị cáo sẽ được bảo đảm.
Người phạm tội phải chịu sự trừng phạt của pháp luật, nhưng không thể bị tra tấn, đánh đập, hành hạ về thể xác cũng như xúc phạm nhân phẩm. Sự có mặt của luật sư là cần thiết bởi những người đã lâm vào vòng lao lý, phải đối mặt với uy lực của cơ quan công quyền, không phải ai cũng có đủ can đảm tự bảo vệ quyền hợp pháp của mình. Người xưa đã có câu: “Khôn ngoan đến cửa quan mới bíết”.
Xuất phát từ tính chất, đặc thù của nghề luật sư, nó đòi hỏi luật sư ngoài các phẩm chất chung là Chân, Thiện, Mỹ, luật sư còn phải là người có khối óc thông minh, tấm lòng trong sáng, dũng cảm, biết lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm cơ sở hoạt động mới xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của xã hội .
Nghề luật sư luôn gắn với sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật. Có thể nói luật gia đầu tiên xuất hiên trong xã hội chính là nhà lập pháp, người định ra các quy phạm pháp luật. Sau đó là sự xuất hiện của các thẩm phán, người có nhiệm vụ bảo đảm cho các quy phạm pháp luật được tôn trọng và cũng là người quyết dịnh hình phạt đối với người vi phạm các quy phạm pháp luật.
Lúc đầu, chứng cứ của hành vi vi phạm pháp luật chỉ dựa vào sự suy đoán hay những lời thề thốt, thú nhận của các bên có liên quan. Việc bào chữa, biện hộ cho các bên chưa được bảo đảm. Nghề luật sư xuất hiện, luật sư tham gia vào quá trình xét xử, đảm bảo công việc bào chữa trong các phiên toà.
Hiện nay, luật sư ở nước ta hiện nay còn đang thiếu và mới chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu của xã hội. Thống kê cho thấy chỉ khoảng dưới 10% vụ án có luật sư. Số luật sư lại chủ yếu tập trung tại các đô thị lớn (riêng ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm hơn 50 % tổng số luật sư toàn quốc). Luật sư còn rất thiếu ở vùng sâu, vùng xa.
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoà mình vào dòng chảy toàn cầu hoá, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng đã không ngừng hoàn thiện, sửa đổi bổ sung để tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển đội ngũ luật sư và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ luật sư. Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đặt ra yêu cầu cấp bách là đất nước cần có một đội ngũ luật sư đạo đức và tài năng. Theo đánh giá sơ bộ, Việt Nam phải có được từ 18.000 tới 20.000 luật sư hành nghề, tức là gấp 5 lần số luật sư hiện nay. Không thể có phép mầu nào thực hiện được điều này một cách nhanh chóng. Trước mắt, theo chúng tôi trong thời gian sắp tới, mỗi luật sư cần phải có những định hướng cụ thể cho mình để đáp ứng những yêu cầu của công cuộc hội nhập và để đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống.Trong tổng số gần 8.000 luật sư Việt Nam hiện nay, kể cả luật sư tập sự, chỉ có khoảng 50 người hiểu biết về luật pháp quốc tế, có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong những giao dịch thương mại quốc tế. Song thực sự chỉ chừng 10-15 luật sư là đáp ứng được các tiêu chuẩn pháp luật thế giới (Những tiêu chuẩn pháp luật thế giới được hiểu là các kiến thức pháp luật chung, uy tín, khả năng tranh tụng ở tòa nước ngoài, được khách hàng nước ngoài tin tưởng, khả năng ngoại ngữ…)
Từ lâu nhiều chuyên gia đã cảnh báo rằng Việt Nam cần phải có một đội ngũ luật sư chuyên về hội nhập kinh tế thế giới, nếu không doanh nghiệp trong nước dễ lâm vào tình trạng “kiếm củi 3 năm đốt 1 giờ”. “Vấn đề ở đây là hội nhập toàn cầu, nếu doanh nghiệp không được trang bị tốt những kiến thức về luật lệ chung của thế giới, những rào cản, sân chơi riêng của từng quốc gia… thì sẽ dễ vấp những vụ tranh tụng dẫn đến thua kiện, phá sản, mất thị trường nhanh chóng.
Nhiều vụ việc tranh chấp đã xảy ra như vụ Bỉ bắt giữ Phó giám đốc Công ty Afiex Bửu Huy theo yêu cầu của Mỹ, sự cố tàu Cần Giờ bị Tanzania bắt giữ, Hàng không VN thua kiện tại Italy…, chính là hậu quả của tình trạng ngại trang bị kiến thức pháp luật quốc tế thông qua luật sư trong giới doanh nghiệp, cũng như thể hiện sự yếu và thiếu của đội ngũ luật sư trong nước.
Muốn làm luật sư, bạn cần phải trải qua quá trình như sau:
- Học thêm khóa đào tạo nghiệp vụ luật sư và sau khi qua kỳ thi, bạn được cấp chứng chỉ tốt nghiệp khóa đào tạo nghiệp vụ luật sư của Học Viện Tư pháp cấp. Chứng chỉ này có giá trị vĩnh cửu, không như các chứng chỉ ngoại ngữ có thời hạn nhất định.
- Sau đó, bạn xin tập sự luật sư tại một văn phòng luật sư hoặc công ty luật nào đó với thời hạn 12 tháng theo Luật Luật sư.
- Sau khi tập sự xong, bạn phải trải qua một kỳ thi do Liên Đoàn Luật sư tổ chức và nếu đạt, bạn sẽ được nhận thẻ luật sư.
b) Thẩm phán:
Muốn làm thẩm phán, đầu tiên bạn phải là đảng viên Đảng CS Việt Nam và phải theo sự phân công của cơ quan đảng (Quy định số 75/QĐ-TW ngày 25-4-2000 của Bộ Chính trị), chưa bao giờ bị kết án, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng;
- “Có trình độ cử nhân luật” là phải có bằng tốt nghiệp đại học về chuyên ngành luật do các trường đại học trong nước có chức năng đào tạo đại học về chuyên ngành luật theo quy định cấp; nếu văn bằng tốt nghiệp đại học về chuyên ngành luật do cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp, thì văn bằng đó phải được công nhận ở Việt Nam theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam;
- “Đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử” là phải có chứng chỉ về đào tạo nghiệp vụ xét xử do cơ quan có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp cấp; nếu là chứng chỉ do các cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận;
- “Thời gian làm công tác pháp luật” là thời gian công tác kể từ khi được xếp vào một ngạch công chức bao gồm Thư ký Toà án, Thẩm tra viên, Chấp hành viên, Chuyên viên hoặc nghiên cứu viên pháp lý, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Công chứng viên, Thanh tra viên, cán bộ bảo vệ an ninh trong Quân đội, cán bộ pháp chế, giảng viên về chuyên ngành luật. Thời gian được bầu hoặc cử làm Hội thẩm, thời gian làm Luật sư cũng được coi là “thời gian làm công tác pháp luật”;
- “Có năng lực làm công tác xét xử” là có khả năng hoàn thành tốt công tác xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án cấp tương ứng mà người đó có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán theo nhận xét, đánh giá của cơ quan, đơn vị quản lý công chức hoặc có những bài viết, công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật có giá trị được công bố hoặc được áp dụng vào thực tiễn;
- “Có sức khoẻ hoàn thành nhiệm vụ được giao” là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, ngoài thể lực cần thiết, còn bao gồm yếu tố ngoại hình đó là không có dị tật, dị hình ảnh hưởng trực tiếp đến tư thế hoặc việc thực hiện nhiệm vụ của người Thẩm phán;
- Đối với người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang bị xem xét xử lý kỷ luật, nhưng chưa có quyết định giải quyết cuối cùng của người hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, thì chưa có đủ điều kiện để có thể được đề nghị tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán.
c) Kiểm sát viên:
- Kiểm sát viên sơ cấp: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có trình độ cử nhân luật, đã được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên.
Theo quy định tại Điều 18 Pháp lệnh Kiểm sát viên thì người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh Kiểm sát viên, có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự.
- Tiêu chuẩn cụ thể của Kiểm sát viên trung cấp:
Theo quy định tại Điều 19 Pháp lệnh Kiểm sát viên thì:
+ Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại phần trên và đã là Kiểm sát viên sơ cấp ít nhất là năm năm, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với Kiểm sát viên sơ cấp thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp của Viện Kiểm sát nhân dân; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát quân sự.
+ Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Kiểm sát nhân dân, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh Kiểm sát viên và đã có thời gian làm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với Kiểm sát viên sơ cấp, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp của Viện Kiểm sát nhân dân; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát quân sự.
- Tiêu chuẩn cụ thể của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương:
+ Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh Kiểm sát viên và đã là Kiểm sát viên trung cấp ít nhất là năm năm, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự Trung ương.
+ Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Kiểm sát nhân dân, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh Kiểm sát viên và đã có thời gian làm công tác pháp luật từ mười lăm năm trở lên, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự Trung ương.
+ Trong trường hợp cần thiết, người đang công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân hoặc người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều động đến công tác tại ngành Kiểm sát nhân dân, tuy chưa đủ thời gian làm Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp hoặc chưa đủ thời gian làm công tác pháp luật, nhưng có đủ các tiêu chuẩn khác quy định tại Pháp lệnh Kiểm sát viên, thì cũng có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp hoặc Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát nhân dân hoặc Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp hoặc Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát quân sự hoặc Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự Trung ương.
d) Trọng tài viên:
Những người có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể làm Trọng tài viên:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật dân sự;
b) Có trình độ đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 5 năm trở lên;
c) Trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu nêu tại điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên.
Những người có đủ tiêu chuẩn quy định trên nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây không được làm Trọng tài viên:
a) Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức thuộc Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án;
b) Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích.
3. Trung tâm trọng tài có thể quy định thêm các tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn quy định đối với Trọng tài viên của tổ chức mình.
e) Công chứng viên:
Luật Công chứng của nhà nước Việt Nam năm 2006 quy định : “Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm làm công chứng viên: Có bằng cử nhân luật; Có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức (thời gian đào tạo nghề công chứng sáu tháng và tập sự hành nghề công chứng mười hai tháng được tính vào thời gian công tác pháp luật). Có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng; Đã qua thời gian tập sự hành nghề công chứng; Có sức khoẻ bảo đảm hành nghề công chứng.
Những người sau đây được miễn đào tạo nghề công chứng (người được miễn đào tạo nghề công chứng cũng được miễn tập sự hành nghề công chứng): Đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên; luật sư đã hành nghề từ ba năm trở lên; Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật; Đã là thẩm tra viên cao cấp ngành toà án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật.
f) Chính khách:
Ở các nước có trình độ kinh tế văn hóa phát triển, các luật sư, quan tòa, giảng viên có thể chuyển sang hoạt động chính trị để trở thành các chính khách khi có các kỹ năng cần thiết đã nhuần nhuyễn và có sự hy sinh đời tư để chịu sự giám sát của nhân dân, gọi là người của công chúng để ứng cử vào các cơ quan lập pháp, các đảng phái.
2.3. Khởi sự kinh doanh độc lập với ngành nghề liên quan:
Thông thường, khởi sự kinh doanh nghề luật luôn phải là các luật sư, công chứng viên, chấp hành viên vì đây là những ngành nghề kinh doanh có điều kiện là những người thành lập phải có chứng chỉ hành nghề.
Tuy nhiên, khi công chứng viên thành lập Văn phòng Công chứng, Luật sư thành lập văn phòng luật sư hoặc công ty luật, đa số họ vấp phải một lỗi cơ bản để hoạt động kém hiệu quả. Đó là văn phòng công chứng, văn phòng luật sư là loại hình doanh nghiệp tư nhân, còn công ty luật là loại hình công ty các loại; có nghĩa lãnh vực chính là quản trị kinh doanh, còn chuyên môn là nghề luật, là thứ yếu. Người chủ doanh nghiệp có tài về tổ chức quản lý có thể thuê người giỏi về chuyên môn.
Do vậy, một người tốt nghiệp cử nhân luật hoàn toàn có thể khởi sự doanh nghiệp để kinh doanh với những ngành nghề liên quan như tư vấn các lãnh vực mà không dùng thuật ngữ “luật” trong các văn bản như tư vấn tâm lý, tư vấn phong thủy, và ký kết các hợp đồng ủy quyền thực hiện vô số các dịch vụ khác.

BÀI 2
TÍCH LŨY KINH NGHIỆM CHO NGHỀ LUẬT
         .................................................
Ths. Lê Học Lâm
           
Bỏ thíc

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.