Dịch

19 tháng 6, 2014

Luận bàn về Hiến pháp sửa đổi năm 2013


Hôm nay thảo luận về Hiến pháp. Nhớ bài góp ý này năm 2013 cảm thấy buồn vì chẳng ai nghe. Bây giờ đã thông qua mới thảo luận tán đồng. Toàn đại biểu hành lang.
Văn bản luật có tên là Hiến pháp ra đời từ rất sớm, những khai quật ở Iraq đương đại tiến hành vào năm 1877 đã tìm thấy bằng chứng của bộ luật pháp lý sớm nhất được biết đến do vua Urukagina ở thành phố Lagash, nước Sumer ban hành khoảng năm 2300 TCN. Nhưng các văn bản Hiến pháp cổ này chỉ là văn bản luật của nhà nước sử dụng với tư cách là công cụ cai trị dân, trong đó, cho người dân một số quyền hạn như việc giảm thuế đối với các quả phụ, trẻ mồ côi và bảo vệ người nghèo khỏi bị người giàu cho vay nặng lãi, giống như người chủ trại chăn nuôi cho phép các con vật nuôi một số quyền hạn nhất định. Trong xã hội dân chủ, khi thừa nhận người dân làm chủ xã hội, nhà nước là tổ chức do người dân lập ra có nhiệm vụ phục vụ nhân dân, thì khái niệm Hiến pháp được Montesquieu và Rousseu đưa ra là một bản hợp đồng xã hội, trong đó, nhân dân ký hợp đồng với nhà nước thuê nhà nước phục vụ mình. Do đó, ông Abraham Lincoln đã có câu nói lịch sử “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” và câu nói này trở thành tuyên ngôn của chính phủ rất nhiều các quốc gia, được ghi nhận trong hấu hết các bản Hiến pháp của các quốc gia trên hành tinh chúng ta.
Trong Lời nói đầu Dự thảo Hiến pháp Việt Nam sửa đổi năm 2013 cũng ghi nhận “Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” và có các chương mục quy định về nhà nước với khá nhiều các cơ quan chức năng rất rộng, còn phần ghi nhận các quyền của những chủ nhân của xã hội lại khá hạn chế. Khi đã thừa nhận “nhà nước của dân, do dân, vì dân” thì tất yếu nhà nước phải là công cụ của nhân dân, Hiến pháp – ý chí nhân dân là tối thượng, tổ chức nhà nước và hoạt động nhà nước phải tuân theo hiến pháp. Cho nên, đứng ở góc độ “nhà nước của dân, do dân, vì dân” nghĩa là Hiến pháp là bản hợp đồng xã hội, thiết nghĩ, Dự thảo Hiến pháp sửa đổi năm 2013 cần có bố cục lại cụ thể nhằm đảm bảo hai vấn đề chủ yếu, cốt lõi của bản Hợp đồng xã hội. Đó là Hiến pháp phải hạn chế đến mức tối thiểu quyền lực nhà nước và phát huy tối đa quyền làm chủ của người dân và hai vấn đề này cần được cụ thể hóa trong các điều khoản của Hiến Pháp.
1. Vì sao Hiến pháp phải hạn chế đến mức tối thiểu quyền lực nhà nước và phát huy tối đa quyền làm chủ của người dân? 
Bởi vì bộ máy nhà nước luôn có xu hướng lạm quyền như một quy luật của tổ chức nhà nước tập quyền. Nếu quyền lực nhà nước mạnh lên thì quyền làm chủ của người dân sẽ bị thu hẹp và ngược lại. Trong một xã hội mà người dân làm chủ, người dân lập ra nhà nước để phục vụ mình và trả tiền thuê cho việc phục vụ ấy qua hình thức đóng thuế. Nhưng trong lịch sử, nhà nước luôn có xu hướng tha hóa và nhũng lạm quyền lực, bóc lột dân chúng và như vậy là nhà nước đã vi phạm hợp đồng xã hội. Do đó, các ông chủ sẽ thay thế người phục vụ mới bằng cách: từ trong dân chúng sẽ có các cuộc khởi nghĩa, đảo chính, thay thế nhà nước cũ hủ bại bằng nhà nước mới. Những cá nhân đứng đầu nhà nước mới này, lúc đầu cũng cam kết với dân chúng các điều khoản trong hợp đồng là sẽ xây dựng một xã hội công bằng, dân giàu nước mạnh, dân chủ, văn minh, nhà nước sẽ là của dân, do dân, vì dân…v.v…sau đó, dần dần nhà nước ấy lại tha hóa, nhũng lạm quyền lực, ban hành các luật lệ tạo thuận lợi cho nhóm lợi ích của mình và đẩy bất lợi về dân chúng, bóc lột dân chúng như sưu cao, thuế nặng, thuế chống lên thuế và đầy các loại phí, lệ phí…v.v… Nói cách khác, lúc đầu những người đầy tớ hứa hẹn nghe lọt tai và ký hợp đồng phục vụ chủ nhân khá tốt nhưng sau đó bắt đầu cưỡi lên đầu chủ nhân và bóc lột chủ nhân. Các chủ nhân ông của xã hội lại tìm cách thay người đầy tớ mới bằng các cuộc đảo chính mới… và sự việc cứ thế diễn ra triền miên. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh điều này như các cuộc khởi nghĩa nô lệ Spartacus ở La mã cổ đại (73-71 TCN) cho đến khởi nghĩa Hoàng Sào bên Trung Hoa phong kiến, thậm chí cả khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi….. Tất cả các cuộc khởi nghĩa đều bắt đầu bằng mục đích tạo ra một xã hội mới, quốc thái dân an (an sinh xã hội được bảo đảm) và khi thắng lợi, lúc đầu nhà nước ấy giữ đúng cam kết trong khế ước xã hội nhưng sau đó, vài ba năm, vài chục năm, tất yếu sẽ tha hóa và nhũng lạm quyền lực, hủ bại và bóc lột các ông chủ, là nhân dân.
1.1. Nhà nước luôn có xu hướng lạm quyền và hủ bại vì các cá nhân trong bộ máy thực hiện các quyền con người:
Do bộ máy nhà nước được cấu thành bởi các cá nhân, là tập hợp bởi các cá nhân với đầy đủ các quyền của những thực thể sinh vật với các thuộc tính bản năng sinh tồn. Những người làm trong bộ máy nhà nước không phải là thần tiên, thánh phật nên không thể đảm bảo chắc chắn rằng họ sẽ cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, mà họ cũng có các quyền bản năng không thể phủ nhận, đó là quyền con người.
Karl Marx đã đưa ra khái niệm rất chí lý rằng “Con người là tổng hòa các quan hệ xã hội với tính hiện thực của nó” nghĩa là con người gồm hai phần “Phần bản năng (phần con)-Tính hiện thực” và “Phần Xã hội (phần người)- Tổng hòa các quan hệ xã hội”. Tương ứng với phần bản năng là các quyền tự nhiên, tương ứng với phần xã hội là các quyền xã hội. 
Quyền tự nhiên của con người bao gồm quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền tự do; các quyền này đã được nhiều văn kiện ghi nhận như Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người 1946, Công ước Quốc tế về Quyền dân sự 1948 của Liên Hiệp quốc và cả trong áng hùng văn của chúng ta là bản Tuyên Ngôn Độc Lập do Hồ Chí Minh đọc vào ngày 02 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình lịch sử. Còn quyền xã hội là các quyền về danh dự, nhân phẩm, uy tín, bảo vệ bí mật đời tư…v.v… nhằm tách biệt con người ra khỏi thế giới của loài động vật.
Trong quyền sống bao gồm các quyền sau: Quyền ăn uống hít thở; quyền cư trú; quyền lao động; quyền học tập; quyền nghỉ ngơi, giải trí; quyền tư hữu; và quyền thông tin. Có thể tóm tắt qua sơ đồ sau:
(tải lên sơ đồ kg dc)
Việc chứng minh các quyền ăn uống, cư trú, lao động, học tập, nghỉ ngơi, tư hữu và quyền thông tin là các thuộc tính cơ bản của con người rất đơn giản; bởi vì các quyền này thuộc quyền tự nhiên, mang tính bản năng sinh tồn; cho nên, chúng ta dựa vào thuyết Tiến hóa của Darwin để biện giải: 
* Quyền được ăn uống hít thở là đương nhiên vì để sống còn, ai cũng phải ăn uống. Không một nhà nước nào được cấm và không thể cấm người dân.
* Quyền cư trú thuộc về quyền tự nhiên. Các con vật cũng biết được lãnh địa của nó. Cho nên, người dân có quyền cư trú trên lãnh thổ, có quyền đi ra ngoài lãnh thổ quốc gia, có quyền trở về quốc gia.
* Quyền lao động mang tính bản năng vì ai cũng phải lao động để sinh tồn. Các loài động vật đều phải kiếm sống, chỉ có điều kiện và hình thức lao động của mỗi cá thể là khác nhau nên kết quả lao động và sự thụ hưởng khác nhau.
* Quyền học tập thuộc quyền tự nhiên vì ngay cả loài vật cũng học tập. Con mèo mẹ cũng dạy mèo con cách bắt chuột, các con vật sinh ra cũng phải tự học tập để nhận biết miếng ăn, mối nguy hiểm để sinh tồn. Con người phải được ghi nhận quyền tự do học tập là đương nhiên.
* Quyền nghỉ ngơi, vui chơi…v.v… cũng là quyền tự nhiên vì các loài vật cũng phải nghỉ ngơi, giải trí. Do đó, pháp luật về lao động của tất cả các quốc gia đều ghi nhận quyền nghỉ ngơi.
* Quyền tư hữu thuộc quyền sống còn, thuộc bản năng sinh tồn theo thuyết Tiến hóa. Ngay các loài vật cũng biết đâu là miếng ăn của nó kiếm được để phân biệt với miếng ăn của con vật khác đang nắm giữ. Trong thời nguyên thủy, người nguyên thủy A hái được 1 trái cây thì người nguyên thủy B không được tước đoạt vì sẽ vấp phải sự chống trả quyết liệt của người nguyên thủy A bảo vệ trái cây thuộc sở hữu của mình, dù lúc này, bầy người nguyên thủy chưa có tiếng nói và chữ viết. Sau này, với sự phát triển thì các đồ dùng sinh hoạt đa dạng hơn, anh ta có cái áo bằng vỏ cây, thì anh ta biết cái áo này “của mình” cái áo kia “của người khác” mà mình không được xâm phạm và không cho người khác lấy cái áo của mình. Khi có ngôn ngữ, tiếng nói và chữ viết, thì khái niệm sở hữu tư nhân đã hình thành và các loại tài sản phát triển như đồ dùng sinh hoạt, nhà cửa, máy móc, đất đai…trở nên đa dạng và phong phú hơn, có nhiều loại sở hữu trong xã hội như sở hữu cộng đồng, sở hữu cá nhân, sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước nhưng đều bắt nguồn từ tính chất bản năng này và bản chất tư hữu vẫn không thay đổi. Chỉ có Karl Marx, với sự giới hạn của lịch sử nên có quan niệm xa rời thuyết Tiến hóa khi cho rằng tư hữu chỉ có khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định, ông chưa thấy được tính chất bản năng của quyền tư hữu trong sự phát triển của loài vượn cổ thành người hiện đại. Thực tiễn lịch sử phát triển xã hội loài người đã cho thấy một cách hiển nhiên rằng nhà nước nào xóa bỏ quyền tư hữu của công dân thì kinh tế xã hội của quốc gia đó suy tàn và bộ máy nhà nước ấy phải thay đổi. Do vậy, Hiến Pháp của khá nhiều nước ghi nhận quyền tư hữu là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm; về đất đai đương nhiên cũng phải đa dạng các hình thức sở hữu để không đi ngược lại sự tiến hóa.
* Quyền thông tin thuộc quyền tự nhiên. Các loài vật sống theo bầy đàn phải thông tin cho nhau biết về miếng ăn, nguồn nước và mối hiểm nguy. Bầy người nguyên thủy cũng vậy và thông tin càng nhanh chóng, thuận lợi thì bầy đàn càng có nhiều cơ hội sống còn, phát triển. Khi có báo tờ, thông tin được lưu giữ tốt hơn, phát tán rộng hơn; sau đó, với sự phát triển của các phương tiện truyền thông như radio, internet… thì thông tin càng xuyên suốt giải phóng cho con người phát huy hết khả năng của mình. Lịch sử phát triển loài người từ thượng cổ cho đến thế giới hiện đại ngày nay đã chứng minh rằng Nhà nước nào hạn chế hoặc bưng bít thông tin thì quốc gia đó kém phát triển, kém văn minh hơn các quốc gia có thông tin rộng mở. Cho nên, trong Công ước quốc tế về quyền dân sự 1948 ghi rõ tại khoản 2, điều 19, “Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia”.
Cùng với quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc thuộc quyền tự nhiên, mang tính bản năng gốc. Bởi vì ngay các con vật cũng biết so sánh, phân biệt món ăn ngon hay dở. Con người luôn mong muốn cuộc sống của mình tốt đẹp hơn và không có chiều ngược lại, như dòng chảy của thời gian. Còn quyền tự do chính là sự không xâm phạm lẫn nhau; bởi vì một cá nhân thực hiện quyền sống và mưu cầu hạnh phúc cho mình nhưng không được xâm phạm đế quyền của cá nhân khác.
Bộ máy nhà nước được cấu thành bởi các cá nhân, nên họ cũng thực hiện các quyền tự nhiên là quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc cho bản thân họ. Trong quá trình làm việc, do có điều kiện và môi trường làm việc tương đồng, họ sẽ giúp đỡ lẫn nhau. Sự giúp đỡ lẫn nhau này là biểu hiện quyền mưu cầu hạnh phúc của cá nhân. Từ đó, các cơ quan trong bộ máy nhà nước hình thành nhóm lợi ích, sẽ ban hành các chính sách, pháp luật tạo thuận lợi cho họ, phục vụ cho lợi ích nhóm và đẩy bất lợi về dân chúng. Dần dần, nhà nước đã vi phạm hợp đồng xã hội đã ký với nhân dân. Do đó, Montesquieu cho rằng nhà nước luôn có xu hướng tha hóa và nhũng lạm quyền lực và Hiến pháp, là bản hợp đồng thành văn của người dân (chủ nhân của đất nước) với nhà nước (đầy tớ phục vụ) phải có các điều khoản hạn chế quyền lực nhà nước ở mức tối thiểu để những đầy tớ (nhà nước) không được đày đọa, bóc lột người chủ (nhân dân). Nói cách khác, nếu đã khẳng định xây dựng và hoàn thiện “một nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” thì nội dung của Hiến Pháp phải đảm bảo được vấn đề hạn chế quyền lực của nhà nước ở mức thấp nhất và phát huy quyền làm chủ của người dân ở mức cao. 
1.2. Hạn chế xu hướng lạm quyền của nhà nước ở mức tối thiểu và phát huy tối đa quyền dân chủ trong văn bản Hiến pháp như thế nào?
Như trên đã phân tích, Nhà nước luôn có xu hướng lạm quyền và Hiến pháp phải có các điều khoản hạn chế sự lạm quyền này qua việc quy định về bộ máy nhà nước. Đó chính là nhà nước pháp quyền theo lý thuyết Tam quyền phân lập mà Montesquieu và Roussau đã phác họa trước đây nhiều thế kỷ. Do Nhà nước thực hiện các chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp nên tất yếu sẽ lạm quyền nếu như ba quyền này tập trung và các cơ quan thực hiện không khống chế được nhau. Nói cách khác, bộ máy nhà nước theo cơ chế Tam quyền phân lập đảm bảo cho những người đầy tớ tự kiểm soát lẫn nhau, khống chế nhau để không lạm quyền; và người dân, với vai trò người chủ sẽ giám sát chung. Bộ máy nhà nước đảm bảo là “của dân, do dân, vì dân” phải được tổ chức như sau:
Ba cơ quan có quyền lực ngang bằng nhau là Quốc hội (lập pháp), Chính phủ (hành pháp) và Tòa án (tư pháp) có khả năng kiềm chế lẫn nhau, và không thể có một cơ quan tối thượng nào lãnh đạo ba cơ quan này. Sự khống chế, kiểm soát lẫn nhau của ba cơ quan này phải được biểu hiện trong các điều khoản của Hiến pháp về một số vấn đề chính như sau:
* Ba cơ quan Quốc Hội, Chính Phủ, Tòa Án phải chế ước lẫn nhau: Trong Hiến pháp phải có quy định quyền hạn của Quốc hội có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ và Chính phủ có quyền giải tán quốc hội, đồng thời có quy định về việc Tòa án có quyền luận tội cá nhân người đứng đầu Chính phủ. Các điều khoản quy định vấn đề này phải cụ thể, rõ ràng, chính xác đảm bảo tính khả thi.
* Các cá nhân làm việc trong Quốc hội, Chính phủ, Tòa án phải không kiêm nhiệm: Trong Hiến Pháp phải có các điều khoản cụ thể quy định các cá nhân làm việc trong ba cơ quan này không được kiêm nhiệm. Nếu đã là thành viên trong Chính phủ không được đồng thời là đại biểu quốc hội. Đã là thẩm phán trong cơ quan tư pháp thì không thể làm đại biểu quốc hội hoặc thành viên của Chính phủ. Bởi lẽ, nếu các cá nhân được kiêm nhiệm thì không thể chế ước lẫn nhau vì một điều hiển nhiên, bộ máy các cơ quan này được cấu thành bởi các cá nhân, nếu các cá nhân kiêm nhiệm lẫn nhau thì không còn kiểm soát và khống chế lẫn nhau nữa. So với lịch sử thì trong xã hội phong kiến, bộ máy nhà nước cũng có phân công, phân nhiệm thành các bộ như Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình, Bộ Lại… và quyền lực vẫn tập trung dẫn tới sự lạm quyền nhưng các cá nhân không kiêm nhiệm; thì nếu trong Hiến Pháp sửa đổi năm 2013 của thời đại ngày nay, ở thế kỷ 21 này, mà quy định cá nhân trong các cơ quan này được kiêm nhiệm, vừa là đại biểu quốc hội, vừa thành viên chính phủ, sẽ là bước lùi rất dài so với sự phát triển của xã hội.
* Nhiệm kỳ làm việc của các cá nhân trong ba cơ quan Quốc hội. Chính phủ, Tòa án phải không trùng lắp: Vấn đề chống lại xu hướng tha hóa, lạm dụng của các cá nhân trong ba cơ quan là nguyên tắc xuyên suốt trong tổ chức hoạt động của nhà nước dân chủ, đối lập với nhà nước tập quyền chuyên chế nên nhiệm kỳ của các cá nhân làm việc trong ba cơ quan Quốc hội, Chính phủ và Tòa án phải so le với nhau. Thí dụ như ở Mỹ, Quốc hội chia làm 2 viện, nhiệm kỳ Thượng nghị sĩ là 3 năm, Hạ nghị sĩ là 2 năm rưỡi và không hạn chế số nhiệm kỳ của đại biểu quốc hội, nhiệm kỳ của tổng thống và các thành viên chính phủ là 4 năm và tối đa 2 nhiệm kỳ, còn thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời; ở một số nước khác, thẩm phán được xem xét tái bổ nhiệm là 7 năm. Do nhiệm kỳ không trùng lắp sẽ hạn chế việc cùng toa rập với nhau giữa các cá nhân trong 3 cơ quan này, hạn chế việc cùng dìu dắt nhau, mua quan bán chức giữa các cá nhân và xu hướng tha hóa, nhũng lạm quyền lực của nhà nước.
* Người dân thực hiện sự giám sát hoạt động của nhà nước bằng hình thức tự do báo chí tư nhân: Như vai trò ông bà chủ giám sát hoạt động người giúp việc, thông qua công luận bằng tự do báo chí, người dân giám sát hoạt động của nhà nước. Các cá nhân khi làm việc trong cơ quan nhà nước là trở thành cán bộ, công chức và các chính khách, nghĩa là trở thành “người của công chúng” và phải chịu sự giám sát của nhân dân. Tự do báo chí nghĩa là tư nhân có quyền in và phát hành các thông tin về hoạt động của các cá nhân này mà không bị kiểm duyệt, dù là tiền kiểm hay hậu kiểm, vì không thể có quan niệm “ôsin kiểm duyệt lời phát ngôn của các ông bà chủ”. Nếu báo chí đưa các thông tin sai lệch thì sẽ bị kiện và bồi thường chứ cơ quan nhà nước không được đóng cửa tòa soạn, ví như ôsin không được bóp miệng ông bà chủ. Có thể nói người dân làm chủ, giám sát hoạt động của nhà nước, giám sát các việc ban hành luật, thực thi luật và áp dụng luật, chỉ có thể bằng con đường tự do báo chí vì các hoạt động chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp đều của nhà nước.
* Quyền sở hữu tư nhân phải được tôn trọng và đảm bảo, nhất là sở hữu tư nhân về đất đai: Quyền tư hữu là quyền tự nhiên, mang tính bản năng gốc theo lý luận từ Thuyết Tiến hóa của Darwin, nên trong các Tuyên ngôn độc lập của nhiều nước đều khẳng định điều này; “quyền tư hữu là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm- Công hòa Pháp; quyền tư hữu là quyền mà tạo hóa đã ban cho loài người- USA” cho nên, quyền tư hữu phải được khẳng định mạnh mẽ trong Hiến pháp.
Trong các loại tài sản thuộc tư hữu thì đất đai là tài sản quan trọng, bởi vì tính không phát sinh thêm. Do vậy, dân chủ có nghĩa là người dân phải được sở hữu chứ không phải nhà nước, với tư cách là người giúp việc được sở hữu đất đai. Khi tư nhân sở hữu đất đai sẽ tạo ra tính minh bạch, rõ ràng, chống lại sự nhũng lạm quyền lực của nhà nước trong lĩnh vực này. Nếu không có tư nhân hóa về đất đai, tất yếu, nhà nước, với quyền lực công, sẽ ban hành các luật lệ gây bất lợi cho nhân dân để phục vụ cho nhóm lợi ích của mình. Tư nhân hóa về đất đai sẽ tạo điều kiện cho các ông bà chủ kinh doanh để có tiền trả công cho người giúp việc qua hình thức đóng thuế cho nhà nước.
* Phải có cơ quan độc lập bảo vệ Hiến Pháp: Khi đã thừa nhận Hiến Pháp có giá trị tối cao, phải có cơ chế giám sát việc đảm bảo giá trị tối cao của Hiến pháp. Người dân, với vai trò là ông bà chủ của quốc gia thực hiện việc tự do báo chí, là tạo nên công luận và khi phát hiện cơ quan nhà nước ban hành văn bản luật nào đó vi hiến, thì cũng chỉ phản ánh trên báo chí. Vậy ai sẽ yêu cầu hủy bỏ văn bản đó khi “nhân dân” là một khái niệm chung, không xác định bằng các cơ quan có nhiệm vụ cụ thể. Lúc này, cần có cơ quan cụ thể thực thi quyền bảo vệ Hiến pháp của người dân. Đó chính là cơ quan bảo hiến. Có nhiều tên gọi cho cơ quan này như Tòa Bảo Hiến, Hội đồng Bảo Hiến…v.v… và cơ quan này phải độc lập, không nằm trong Quốc Hội, Chính Phủ và Tòa án.
2. Nhận xét góp về Dự thảo Hiến Pháp sửa đổi năm 2013
Dự thảo Hiến pháp sửa đổi 2013 đưa ra lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trong khoảng thời gian khá ngắn, điều đó cũng chứng tỏ nỗ lực của Ban Soạn thảo trong bối cảnh dân trí đã nâng cao hơn rất nhiều so với thời kỳ đầu đổi mới. Tuy nhiên, trong Lời nói đầu đã khẳng định một “nhà nước của dân, do dân và vì dân” thì nhất thiết, về tính logic, các điều khoản về tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước phải không xa rời các giá trị phổ quát đã mang tính toàn cầu.
* Bộ máy nhà nước trong Dự thảo có rất nhiều chế định về các cơ quan như Chính phủ, Chủ tịch nước, Tòa án, Viện Kiểm sát, Quốc hội và trong Dự thảo còn quy định về sự phối hợp với một cơ quan là Mặt trận Tổ Quốc nhưng trong Hiến pháp không làm rõ đó là cơ quan gì trong bộ máy nhà nước (khoản 8, điều 110) và cả trong điều 4 cũng không quy định rõ cơ quan lãnh đạo thuộc bộ máy nhà nước hay đứng ngoài bộ máy nhà nước. Nhưng nhìn chung, tất cả các cơ quan này không có sự khống chế nhau về quyền lực, nghĩa là chưa ngăn ngừa xu hướng lạm dụng quyền lực công và sự tha hóa của các bộ phận cấu thành các cơ quan. Có nghĩa là chưa có sự khống chế sự lạm quyền của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tại các điều 2, điều 4 và các chương V về Quốc hội, chương VI về Chủ tịch nước, chương 7 về Chính phủ, chương VIII về Tòa án đều thể hiện không có xu hướng ngăn chăn sự lạm dụng và tha hóa quyền lực công. Điều 2 của Dự thảo khẳng định “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.” thì lịch sử phát triển của xã hội đã cho thấy các nhà nước phong kiến cũng thống nhất về quyền lực và có phân công phối hợp giữa các cơ quan và tất yếu dẫn tới lạm dụng và tha hóa quyền lực công. Ca dao có câu “Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình; Ba Bộ đồng tình bóp vú con tôi” đã minh chứng cho sự tha hóa quyền lực vì không có sự chế ước; thì hiện nay, chúng ta đã bước sang thế kỷ 21, xã hội đã văn minh hơn rất nhiều, thì chúng ta không thể quy định trong Hiến pháp những điều khoản đi ngược với sự phát triển được.
Thậm chí, trong Dự thảo còn có chế định Chủ tịch nước và Viện Kiểm sát nhân dân không nằm trong cơ quan Quốc hội, Chính phủ hoặc Tòa án và cũng không thể hiện rõ được chức năng của loại cơ quan này là lập pháp, hành pháp hay tư pháp. Về nguồn gốc hình thành cơ quan này có từ Liên Xô khi Lénine thiết lập nền kinh tế kế hoạch bao cấp với bộ máy chuyên chính vô sản, trong hệ thống Sovietque Law. Lịch sử luôn phát triển đã loại bỏ những gì bất hợp lý, không có lý nào các nhà soạn thảo và các cá nhân có thẩm quyền mong muốn xã hội chúng ta, dân tộc Việt Nam chúng ta định hướng quay về quá khứ. 
* Dự thảo Hiến pháp chưa có quy định về chế độ làm việc không kiêm nhiệm của các cá nhân trong ba cơ quan Quốc hội, Chính phủ và Tòa án. Tại khoản 2, điều 78 của Dự thảo chỉ quy định “Thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội không thể đồng thời là thành viên Chính phủ.” chứ không có quy định thành viên chính phủ không đồng thời là đại biểu quốc hội. Các cá nhân làm việc kiêm nhiệm giữa ba cơ quan có chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp tất yếu sẽ toa rập với nhau như phân tích ở trên, để dẫn tới lạm quyền và biểu hiện này sẽ mâu thuẫn với quan điểm “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” ghi trong lời nói đầu. Ngay cả thời kỳ phong kiến, các nhà nước quân chủ lập ra các cơ quan có sự phân công phối hợp nhưng quyền lực thống nhất; và dù cho quyền lực thống nhất trong bộ máy nhà nước phong kiến thì cũng không thể có việc cá nhân kiêm nhiệm trong nhiều cơ quan chức năng khác nhau như quy định trong Dự thảo. Trong chế độ phong kiến Trung Hoa, hình tượng Bao Công được tôn thờ thể hiện ước mơ của người dân một niềm tin vào công lý nhưng nếu như Bàng Cát giữ chức Thái sư kiêm nhiệm luôn Phủ doãn Khai Phong là Bao Công thì chúng ta không biết các “con dân” trong chế độ phong kiến còn biết tin vào đâu, chưa nói đến quan điểm dân chủ thể hiện trong Lời nói đầu của Dự thảo.
* Nhiệm kỳ của các cá nhân làm việc trong các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp còn trùng lắp: Nhiệm kỳ của đại biểu quốc hội là 5 năm (điều 76) thì nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội (Điều 92), Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội.( điều 110) Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. (điều 113) Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội (điều 102); nghĩa là các cá nhân giữ các chức vụ ở các cơ quan này, từ chủ tịch Quốc hội và các đại biểu Quốc hội, Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước, Chánh án tòa án tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao, Thủ tướng, các Phó thủ tướng, các bộ trưởng và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước...cùng nhiệm kỳ 05 năm, cùng dàn mặt trận chung một chiến hào mà không có một chế ước nào ngăn chặn sự lạm quyền; vì như trên đã phân tích, các cá nhân này cũng là con người với đầy đủ tính chất của thực thể sinh vật và họ cũng có quyền tự nhiên. Cho nên, khi được nhân dân giao cho quyền lực công để thực hiện công việc phục vụ nhân dân, với cơ chế tập quyền thống nhất này, với các cá nhân có nhiệm kỳ trùng lắp này, tất yếu hình thành nhóm lợi ích và ban hành các chính sách, luật lệ phục vụ cho lợi ích nhóm và như thế sẽ lạm dụng, tha hóa quyền lực. 
* Công dân có quyền tự do báo chí: Báo chí tư nhân tự do là phương tiện để người dân giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước. Trong Dự thảo có Điều 26 “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.” nhưng dưới góc độ khoa học pháp lý, khi đã thừa nhận ở điều 123 “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất.” thì không thể gắn “cái câu liêm” móc lại bằng cụm từ “theo quy định của pháp luật”. Bởi lẽ, giá trị tối cao của Hiến pháp phải được áp dụng trực tiếp. Không lẽ rằng nếu Hiến pháp đã ban hành nhưng chưa có quy định của pháp luật thì các quyền của người dân, các quyền con người bị treo, chưa thực hiện được. Không riêng gì điều 123 trong Dự thảo mà hầu hết các điều khoản quy định về quyền của người dân thường gắn vào cụm từ này. Nói cách khác, các ông bà chủ muốn thực hiện các quyền ăn nói, đi lại, hội họp biểu tình đều phải chờ những người giúp việc ban hành luật lệ để cho phép hoặc khi chưa cho phép thì không được thực hiện quyền của họ. Như thế, việc gắn vào cụm từ “theo quy định của pháp luật” vừa mâu thuẫn với việc khẳng định tính tối cao của Hiến pháp vừa mâu thuẫn với quan điểm “nhà nước của dân, do dân và vì dân”. 
* Không nên quy định về chế độ kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học công nghệ ở chương III vì chương II của Dự thảo đã quy định về quyền con người. Bởi vì, khi đã khẳng định “nhà nước của dân, do dân và vì dân” là khẳng định nhà nước là người phục vụ, còn người dân làm chủ. Khi người dân làm chủ, các ông bà chủ có quyền tự do kinh doanh, tự do ngôn luận, nghiên cứu khoa học…v.v…từ đó hình thành chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa… và nhà nước có trách nhiệm phục vụ tốt cho người dân thực hiện các quyền đương nhiên, là các quyền con người. Các cá nhân sống trong một xã hội dân chủ có nhà nước pháp quyền thực hiện chức năng phục vụ gọi là các công dân. Nếu Nhà nước đặt ra các chế định về kinh tế, chính trị, văn hóa, vừa trùng lắp với chương II về quyền con người vừa chứng tỏ người dân trong xã hội không phải là công dân mà chỉ là các “thần dân” phải tuân theo các chế định của các “phụ mẫu chi dân” đặt ra mà thôi.
* Vấn đề sở hữu tư nhân về đất đai: Khi đã xác định quyền tư hữu là bộ phận của quyền tự nhiên của con người thì đất đai là tài sản có giá trị phải được thừa nhận sở hữu tư nhân. Dân chủ còn có nghĩa là người dân phải được sở hữu chứ không phải người giúp việc sở hữu. Khi cá nhân sở hữu đất đai sẽ tạo ra tính minh bạch, rõ ràng, chống lại sự nhũng lạm quyền lực của nhà nước trong lĩnh vực này. Tham nhũng trong lĩnh vực đất đai trong thời gian qua đã minh chứng rõ nét việc lạm dụng và tha hóa quyền lực công thì không có lý nào Dự thảo Hiến pháp 2013 lại bảo vệ, cổ vũ cho xu hướng tiêu cực này
* Cơ quan bảo hiến độc lập: Trong Dự thảo Hiến pháp 2013 có quy định về Hội đồng Hiến pháp trong điều 120. Tuy nhiên, Hội đồng Hiến pháp không phải là cơ quan bảo hiến có chức năng bảo vệ hiến pháp mà theo quy định tại điều này, Hội đồng Hiến pháp do Quốc hội thành lập, có chức năng xem xét kiểm tra và kiến nghị lên Quốc hội, thì chức năng này đã trùng lắp với một cơ quan khác trong Quốc hội là Ủy ban pháp luật, là cơ quan giúp việc cho Quốc hội. Việc cải cách hành chính trong nhiều năm qua đã được tiến hành nhằm bộ máy nhà nước tinh gọn, giảm bớt mâu thuẫn, chống chéo, thì việc có thêm Hội đồng Hiến pháp không thể hiện đủ chức năng bảo hiến vì không độc lập mà chỉ tăng thêm sự chồng chéo, mâu thuẫn về tổ chức và hoạt động của hai cơ quan này.
Qua phân tích trên, thiết nghĩ, với quan điểm ghi nhận trong Lời nói đầu của Dự thảo Hiến pháp năm 2013, quan điểm này phải được thể hiện xuyên suốt trong các điều khoản để đảm bảo tính khoa học trong văn bản luật có hiệu lực pháp lý tối cao và vô cùng quan trọng này.

      


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.